Chương 49: Nước lũ rút
Cảnh Liễu Hà Thôn sau khi nước lũ rút, Văn Thiển chưa tận mắt chứng kiến, nhưng người trên phố có quay video.
Thời đại này smartphone phổ biến, trong làng quả bí đỏ nào to hơn một chút hay củ cải nào méo mó một tí cũng được đưa lên mạng.
Khi lũ về, có người ở thị trấn bên kia sông đã quay lại cảnh tượng.
Đợi nước rút hết, video cảnh nhà nhà đều xúc bùn, cạo tường, giặt giũ xuất hiện.
Văn Thiển chỉ cần bấm vào mục 'người gần đây' là thấy vô số bài đăng liên quan đến lũ.
Lũ về thì mất điện, ngày hôm sau nước rút là có điện lại.
Tường bị ngập, sau khi cạo lớp vữa cũ, đợi nhà khô thì quét vôi hoặc lát gạch; có nhà cửa bị lũ phá hỏng, phải thay cửa mới.
Đầu cầu có bày nước khoáng, mì tôm và một lều thuốc.
Người từng trải qua lũ về nhà không lâu đều thấy họng hơi rát, da cũng có vấn đề.
Nhân viên lều thuốc phát thuốc miễn phí cho người bị nạn, nào là thuốc bầm dập, sát trùng da, tiêu viêm đều có; bệnh vặt có thể đến đó lấy thuốc.
Người phun thuốc sát trùng cũng sáng tối mỗi ngày một lần, sau lũ càng phải chú ý vệ sinh, đề phòng dịch bệnh.
Lúc này hệ hô hấp và tiêu hóa của mọi người đều rất yếu, sơ sẩy một chút là người già trẻ nhỏ đổ bệnh, thảm họa chồng thảm họa.
Nhà nhà đều dọn dẹp vệ sinh, nhiều người trước đó đi nhờ họ hàng bạn bè đã trở về.
Ai có họ hàng trên phố thì lên phố xem một lượt, về bảo tan hoang, trên phố nhiều rác.
Lũ về cuốn từ thượng nguồn không ít thứ xuống, trong đó có nhiều cây gỗ rất to cũng bị cuốn theo.
Thế là ở khúc sông chảy chậm phía hạ nguồn, đồ đạc mắc cạn, không ít người ra đó vớt đồ, có người vớt xe máy, có người vớt gỗ.
Còn có người nhặt đồ điện, dù không biết còn dùng được không.
Nói đến đồ nhặt được, Văn Thiển cũng muốn đi nhặt, chủ yếu là nhặt gỗ.
Nhưng đông người thế, nhặt xong còn phải tự kéo về, nghĩ lại thôi.
Nghĩ đến vật liệu xây dựng khó kiếm, Văn Thiển chuyển mục tiêu sang bụi tre gần nhà.
Măng mọc sau mưa thành những cây tre mới, đã mọc lâu rồi.
Văn Thiển chặt khá nhiều tre, giảm mật độ bụi tre, trữ được kha khá tre trong không gian.
Bụi tre gần nhà, tre đều khá nhỏ, nghe chú Trần nói Đại Trần Oa có một bụi tre, ống rất to.
Văn Thiển đến xem rồi hỏi dân làng, họ bảo không dùng đến, thế là cô chặt hơn chục cây tre rất to mang đi.
Văn Thiển nghĩ đến độ cao so với mực nước biển ở đây, họ đều ở trong thung lũng, cơ bản không có chuyện lũ làm ngập nhà.
Lũ lụt thường xảy ra ở vùng đất bằng phẳng và trũng thấp.
Lúc mưa lớn nhất ở chỗ họ là con sông phía dưới, nó cuốn phẳng ruộng hai bên bờ, nhấn chìm một số hoa màu.
Giao thông tạm thời bị cản trở, ngoài ra cũng không sao.
Con sông nhỏ bên làng, từ lâu đã bị chặn thành từng đoạn, trên mỗi đoạn bắc cầu, gầm cầu làm hẹp lại, khi cần tích nước thì dùng bao cát bịt lại, mực nước dâng lên, tiện cho việc bơm nước tưới tiêu.
Đến mùa nước lên thì mở miệng cống, tiện cho việc xả nước.
Sau trận lũ lớn này, có một hai cây cầu gặp vấn đề, thân cầu không hỏng, nhưng chỗ nối giữa bê tông và đất bị xói rỗng.
Tuy nhiên ở chỗ họ cầu rất nhiều, cầu này không đi được thì đi lên trên một chút qua cầu khác cũng vậy.
Văn Thiển tra độ cao của tỉnh An, phát hiện chỗ họ thực ra không cao lắm.
Nếu một ngày nào đó vùng bằng phẳng không ở được, thì thế nào người ta cũng sẽ di cư lên vùng núi, đồi hoặc cao nguyên.
Văn Thiển nghĩ không biết có ngày nào dân làng sẽ đông lên, mọi người đều về quê tránh nạn không.
Văn Thiển cho rằng nơi lý tưởng của mình phải có rừng có đất bằng, xa những nơi hay xảy ra thiên tai như lũ, tuyết, động đất.
Đồng thời người lại ít, như vậy mục tiêu đương nhiên hướng về phía Tây.
Nhưng cô thực sự không biết nên rời đi ngay bây giờ hay để sau.
Rời đi bây giờ giao thông tiện hơn, nhưng Văn Thiển thấy mình chuẩn bị chưa đủ, tìm một môi trường hoàn toàn xa lạ để thích nghi cũng không dễ.
Cô còn nghĩ giá như mình có thể tiếp tục sống trong một thung lũng nhỏ thế này, mà người xung quanh lại không nhìn thấy nó thì tốt biết mấy.
Tiếc là cô không biết ảo thuật, cũng không biết kết giới, cứ như Vương Tiểu Bình muốn đến làm phiền là đến, muốn đi là đi.
Nhưng hiện tại tình hình còn ổn, Văn Thiển định quan sát thêm, dù sao ở đâu cũng chỉ là sống qua ngày.
Sau đó một tuần, chỗ họ đều nắng ráo, dù là phố bị thiệt hại hay làng không sao, mọi người đều mang đồ ra giặt giũ phơi phóng.
Một tuần, trên phố cũng dọn dẹp gần xong.
Văn Thiển đến, phát hiện nhà nhà tầng một đều cạo hết lớp vữa tường, còn một hiện tượng thú vị là nhà nào cũng phơi máy đánh mạt chược trước cửa.
Phòng khách ở địa phương thường có một cái bàn gỗ lớn, nếu thêm máy đánh mạt chược thì khá chật.
Thế nên người khôn đặt máy mạt chược vào trong bàn gỗ, lúc ăn cơm thì là bàn ăn, mở mặt bàn ra, bên dưới là máy mạt chược, cắm điện là dùng được.
Nhưng nhiều nhà lại nghĩ không có máy mạt chược trong nhà là không hợp thời, ăn không nổi uống không nổi, nhưng máy mạt chược thì phải mua để trong nhà.
Lúc sơ tán, nhiều người khiêng tủ lạnh, máy giặt lên tầng, máy mạt chược to và nặng nên để lại tầng một.
Nhưng nó đủ nặng, lũ có xô cửa nhà họ, máy mạt chược vẫn đứng yên tại chỗ.
Đợi lũ rút, họ tháo ra giặt giũ, thế mà vẫn dùng được.
Thế nên lúc Văn Thiển lên phố, ngoài đường bày toàn máy mạt chược.
Rác trên phố đã được dọn sạch, cả con phố giờ rất sạch sẽ, còn thoang thoảng mùi thuốc sát trùng.
Cô bước nhanh qua cầu sang thị trấn bên kia, trận lũ này, thị trấn chỉ có một dãy nhà ven sông bị ngập, còn lại thiệt hại không lớn.
Ngày chợ phiên, thị trấn vẫn đông người.
Hễ có dịp lên phố là Văn Thiển nhất định đi, hễ đi là cô lại tiêu ít tiền mua thứ gì đó, muốn nhét thêm đồ vào không gian.
Cô thấy mình nghiện tích trữ rồi.
Mọi người đều bàn tán về trận lũ này, lũ trên phố không gây thương vong, nhưng nghe nói thượng nguồn có người bế con đứng xem, đứa bé rơi xuống nước, đến giờ chưa tìm thấy xác.
Văn Thiển thực sự không hiểu cái tâm lý xem náo nhiệt của người ta, đứng xa một chút không được sao?
Cô vừa nghe người xung quanh tán gẫu, vừa chờ nồi bánh bột lên men quay đều trên bếp.
Trường hợp thương vong duy nhất sau lũ trên phố này là một ông lão, trước lũ đã rời nhà đi nhờ họ hàng, sau lũ rút thì cùng gia đình về dọn dẹp.
Ngày thứ hai sau lũ, mực nước sông đã xuống nhiều, mọi người đều ra bậc thang ven sông quen thuộc, lấy nước rửa đồ hoặc nhúng cây lau nhà.
Giữa trưa, nhiều người đang nghỉ trưa sau khi dọn nhà mệt nhoài, ông lão xách cây lau nhà đi rửa, rồi không thấy về.
Người nhà tưởng ông đi dạo, mấy tiếng sau tìm từ làng này sang thị trấn bên kia không thấy bóng dáng, mới nghi có chuyện.
Sau đó quả nhiên phát hiện xác chết đuối cách bậc thang không xa, có lẽ lúc đó không may trượt chân, mà xung quanh lại không có ai.
Thế là không ai phát hiện hay cứu, cứ thế chết đuối.
Người nhà khóc lóc khiêng xác về nhà.
Tránh được lũ, lại chết sau lũ.
Người ta than thở sự vô thường.
