Chương 58: Căn cứ Lan Thương (3)
A Kinh đang nhấc một tảng đá, dưới tảng đá hình như có sinh vật sống. Đằng xa vọng lại tiếng kêu cứu của Nguyên Phong. A Kinh vội thả tảng đá xuống, chạy thật nhanh tới chỗ đó. Thì ra Nguyên Phong đã sa vào một đầm lầy. Nguyên Phong càng giãy, càng lún nhanh. A Kinh không khỏi la lớn: “Đừng động nữa! Càng động càng khó ra.”
A Kinh lục trong không gian, bỗng thấy tấm ván từ cái xe giá rẻ cô từng làm. Cô từng dùng nó làm giường suốt một thời gian dài, không nỡ bỏ, nên cứ để trong không gian. Cô ném tấm ván ra, bảo Nguyên Phong từ từ trèo lên. Nguyên Phong giãy giụa hồi lâu mới trèo được lên. A Kinh lại lấy từ không gian rất nhiều rơm rạ chất đống, trải lên mặt đầm lầy. Nguyên Phong chầm chậm bò qua.
Khi Nguyên Phong đứng trên mặt đất, không khỏi thở phào một hơi dài: “Hù chết tôi! Tôi cứ tưởng phải bỏ mạng ở đây rồi!” A Kinh không khỏi trách: “Đây là đầm lầy, sao cậu không nhìn đã chui vào, lại còn đi sâu thế nữa?”
Nguyên Phong căm tức nói: “Ở đây có một con dị thú to, tôi định bắt nó, ai ngờ nó chui vào trong, lại còn dùng đuôi kéo tôi theo. Cậu tới chậm một chút, chắc không thấy tôi nữa!” A Kinh không khỏi sợ hãi.
Đang nói chuyện, họ thấy tấm ván A Kinh vứt ra từ từ lún xuống đầm lầy. Hai người không dám chậm trễ, vội chạy thật nhanh ra xa, kẻo bị cuốn vào. Hai người càng cẩn thận hơn, không tách rời nhau nữa, đi đâu cũng nhìn xem có nguy hiểm không.
Vì thận trọng, họ càng ngày càng cách xa bờ biển, mặt đất ở đây cũng cứng hơn. A Kinh thấy xa xa trên trời có rất nhiều chim biển dị biến, A Kinh không khỏi thèm thuồng.
A Kinh quay lại hỏi Nguyên Phong: “Có con mồi lớn nào bị phóng xạ vừa phải không?” Nguyên Phong lục lọi, lôi ra một con sứa biến dị, rất to, chắc phải trăm cân. A Kinh rất vui, cô lấy từ không gian vài cái chậu nhựa lớn, rồi cắt sứa biến dị thành từng khúc, sau đó bảo Nguyên Phong bày ra riêng từng chỗ.
A Kinh đổ một lớp nước không gian vào mỗi chậu, thử xem ‘mánh câu cá’ lần trước còn hiệu quả không. Nguyên Phong ngạc nhiên không nói nên lời với mấy thứ linh tinh lặt vặt trong không gian của cô. Cô ấy bỏ đủ thứ vào không gian!
A Kinh kéo Nguyên Phong, hai người trốn xa nhìn lũ chim biển dị biến bay lượn khắp nơi. Đợi mãi A Kinh suýt muốn bỏ cuộc, thì thấy một con chim biển dị biến giật một miếng thịt sứa biến dị, rồi bay nhanh lên trời.
Chắc vì nước không gian bám trên sứa quá ngon, con chim biến dị kêu ríu rít gọi bè bạn, không bao lâu bảy tám con chim biển dị biến bay xuống.
Nguyên Phong nhìn A Kinh, dùng ánh mắt hỏi: Đánh không? A Kinh từ từ lắc đầu: Đợi thêm, còn ít quá. Cho đến khi mỗi khối thịt sứa biến dị đều vây quanh bảy tám con chim biển dị biến, A Kinh và Nguyên Phong đồng loạt ra tay. Tinh thần lực của A Kinh bắn ra bốn năm tia cùng lúc vào lũ chim.
Nguyên Phong thì hóa ra bảy tám con dao găm, phóng từng phát vào đầu lũ chim. Hai người không dám lơi lỏng một chút, chẳng mấy chốc chim đã ngã đầy một đống.
A Kinh và Nguyên Phong nhanh tay thu dọn. Thấy thịt sứa biến dị vẫn còn nhiều, mà nước không gian thì hết khá nhiều, A Kinh lại đổ thêm nước không gian vào mỗi chậu. Hai người tiếp tục trốn. Chỉ đánh chim biển dị biến thôi, hai người đã thu hoạch đầy mình.
Trời càng ngày càng tối. A Kinh đề nghị trước hết không về căn cứ, họ trốn vào cái hang đã phát hiện hồi trước. Bằng không cái nhà nhỏ ở căn cứ chẳng thể nào chứa hết chừng ấy chim biến dị. Nguyên Phong cũng đồng ý. Hai người thu dọn mấy cái chậu nhựa không, đến cái hang đã chọn. Họ báo cho hướng dẫn viên, hướng dẫn viên tới lấy thù lao rồi về căn cứ.
Hai người dọn dẹp sơ qua hang. Nguyên Phong tìm kiếm củi khô khắp nơi, cuối cùng chỉ nhặt được chút cỏ dại, không có gỗ. A Kinh thì lấy củi dự trữ trong không gian ra. Nguyên Phong quả thực không nhịn nổi: “Không phải chứ, không gian của cậu là túi bách bảo à? Sao cái gì cũng có thế?” A Kinh cười đắc ý: “Không có cách nào, tớ thích ăn ngon, có gỗ mới làm được đồ ngon mà!” Nguyên Phong bái phục.
Hai người lấy đèn pin trong hang ra. A Kinh bảo Nguyên Phong nướng mấy con sò bắt được trên lửa, còn cô thì lấy đá trong không gian ra bịt kín miệng hang. Nguyên Phong đành coi như chuyện lạ, mấy tảng đá của cô ấy, nói thật, đã dùng vài lần rồi.
Hai người ăn ấm bụng mấy con sò, thoải mái vô cùng. Sau đó họ lấy chim biển dị biến ra, bắt đầu thử xem có ăn được không. Không ăn được thì mai làm mồi nhử. Chỉ có bốn năm con chim biển dị biến là ăn được, còn lại phóng xạ cao. May mà phần lớn chim biển dị biến đều có tinh hạch, cũng không phải làm công cốc.
Mỗi người chia hai con chim ăn được, còn một con định ăn trong thời gian tới. Mỗi người được mười hai tinh hạch. Toàn là tinh hạch cấp thấp, cũng không đến nỗi phải nhường nhau. Mỗi con chim biển dị biến ít nhất cũng bảy tám mươi cân, bỏ da lông ruột còn bốn năm mươi cân thịt, cũng tốt. Hai người dứt khoác lột da, bỏ nội tạng, cấp đông thịt trong tủ.
A Kinh còn phát hiện bốn quả trứng chim biển, đo thử, lại không nhiễm xạ. Hai người rất phấn khích, mỗi người hai quả. Thứ không nhiễm xạ này với người bị bệnh phóng xạ chính là thần dược. A Kinh lấy một cái nồi, cắt nhỏ con chim định ăn, bỏ nước không gian vào, thêm gia vị rồi bắt đầu hầm.
Hai người thay phiên nhau canh, một người nửa đầu đêm, một người nửa cuối đêm, vừa canh vừa trông nồi. Bởi mùi thịt thơm phưng phức, thu hút không ít động vật dị biến. Hai người dịch một tảng đá ra, A Kinh canh đêm thì dùng tinh thần lực, Nguyên Phong thì dùng phi đao kim loại. Sáng hôm sau, hai người thu hoạch được khá nhiều động vật nhỏ ven biển: bọ cạp dị biến, đủ loại cua dị biến, vài con rùa biển dị biến. Họ kiểm tra từng con, một nửa ăn được, xem ra động vật dưới nước có tỷ lệ ăn được cao hơn nhiều.
Hai người bỏ tất cả đồ ăn được vào không gian. A Kinh chia thịt chim biển dị biến đã hầm làm hai nửa. Hai người ăn sáng, còn lại một phần, mỗi người để vào không gian, định bữa sau ăn tiếp.
Họ vừa định vứt mấy con động vật dị biến không ăn được, thì một người bản địa bên cạnh bảo họ: Các sản phẩm từ biển dị biến phóng xạ cao phơi khô có thể dùng làm nhiên liệu. Mai rùa, xương động vật dị biến v.v. đều có thể nhóm lửa.
Hai người mắt sáng lên. Không trách được xung quanh không có cây cối lớn mà vẫn xây được căn cứ, hóa ra nguồn năng lượng của họ đến từ động vật biển. Hai người rất cảm kích, tặng đối phương hai con bọ cạp dị biến.
Mỗi con bọ cạp dị biến nặng chừng mười mấy cân, làm nhiên liệu cũng rất tốt. Đối phương thấy họ biết điều, liền chỉ về phía trái: Ở đó có một khu đá lởm chởm, ngoại trừ khó đi, thì sẽ không có đầm lầy, có thể bắt sinh vật biển. Hai người rất vui. Họ lại tặng đối phương một bát thịt chim biển dị biến.
Họ dọn dẹp đồ đạc xong, rồi đến khu đá lởm chởm. Chỉ thấy những tảng đá ở đây cao thấp không đều, nhiều chỗ trũng có nước biển tràn vào, tạo thành những vũng nước lớn nhỏ. Một số vũng nước còn có nhiều sinh vật biển. Ở đây có khá nhiều người dân địa phương đang nhặt nhạnh đồ.
Có người mặc giáp thú, phần nhiều hơn thì dùng mai ốc xâu thành áo khoác, khoác ngoài người và đầu. Chắc họ không có không gian nữu, hoặc không đủ khả năng sở hữu không gian nữu. Ai cũng mang xô thùng túi xách để đựng sản phẩm từ biển. Tất cả mọi người đều vất vả mưu sinh trong khổ cực.
