Cuốn “Giấy chứng nhận mua cổ phiếu” này được in ấn cực kỳ tinh xảo.
Trông hơi giống loại sổ tem nhỏ trong bộ sưu tập tem, bìa được mạ vàng, mặt sau in dòng chữ “Thị trường chứng khoán có rủi ro, khi tham gia cần thận trọng”.
Bên trong có bốn liên, không cần giấy than, tương ứng với bốn cơ hội bốc thăm, tự có chức năng sao chép.
Ở phần hướng dẫn, ghi rõ giấy chứng nhận mua cổ phiếu không phải là cổ phiếu, mà là chứng từ để mua cổ phiếu.
Đồng thời ghi chú, toàn bộ việc phát hành cổ phiếu trong năm 1992 sẽ dựa vào cuốn giấy chứng nhận này để bốc thăm.
Số tiền thu được từ việc phát hành giấy chứng nhận sẽ được quyên góp toàn bộ cho sự nghiệp phúc lợi của Thượng Hải.
Tiếc là quyết định này vừa đưa ra, loại giấy chứng nhận giá 30 tệ một cuốn đã làm không ít người e ngại.
Vì số tiền này tương đương khoảng 1/4 thu nhập hàng tháng của giới lao động thời đó, nên việc bán giấy chứng nhận gặp lạnh nhạt.
Nhưng thực tế nhanh chóng đảo ngược, theo thống kê của công ty chứng khoán.
Trong năm 1992, tổng cộng có 53 công ty phát hành cổ phiếu mệnh giá 10 tệ, tổng cộng 54,797 triệu cổ phiếu niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thượng Hải.
Quy mô phát hành quá lớn, số lượng quá nhiều, đến mức tỷ lệ trúng thưởng lên tới 86,9%.
Cộng với việc lúc đó để bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư, bội số lợi nhuận dùng để xác định giá phát hành cổ phiếu tương đối thấp, nên cổ phiếu mới vừa lên sàn đều thu được lợi nhuận không nhỏ.
Ngày 21 tháng 5 năm 1992, sàn giao dịch chứng khoán Thượng Hải tuyên bố nới lỏng hoàn toàn giá cổ phiếu của Thượng Hải.
Chỉ số chứng khoán Thượng Hải đã tăng hơn gấp đôi so với mức 616 điểm của ngày 20 tháng 5, đến khi đóng cửa ngày 21 đã đạt 1265 điểm.
Dân gian truyền nhau một cách tính lợi nhuận thô bạo, cổ phiếu mới mệnh giá 1 tệ khi lên sàn, trong điều kiện bình thường có thể kiếm được hai ba chục.
Nếu trúng cổ phiếu tốt, nhiều nhất có thể kiếm được một vạn tệ.
Nếu bỏ ra ba nghìn tệ mua một trăm tờ giấy chứng nhận, năm đó sẽ trở thành triệu phú.
Nhìn vào góc dưới bên phải màn hình máy tính, hôm nay là ngày 31 tháng 12 năm 1991.
Thời gian vẫn còn sớm, nếu nhớ không nhầm thì thời gian phát hành giấy chứng nhận là ngày 19 tháng 1, hạn cuối là ngày 1 tháng 2, nên anh vẫn còn nhiều thời gian.
Đầu tháng anh còn vài kỳ thi, đợi thi xong là có thể lên đường đến Thượng Hải.
Đi tàu hỏa chắc chắn không hợp lý, vì quá xa, thời gian quá lâu, trên tàu cũng không an toàn.
Cách tốt nhất vẫn là đi máy bay.
Nhưng đi máy bay lúc này có một rắc rối, đó là giấy giới thiệu.
Để mua vé máy bay, cần phải có giấy giới thiệu của đơn vị và giấy tờ tùy thân của bản thân.
Người đi máy bay thường là cán bộ cấp huyện đoàn trở lên hoặc nhân viên kỹ thuật chuyên môn có chức danh kỹ thuật cao cấp.
Vé máy bay thời này ở dạng giấy, bao gồm liên hành khách, liên kế toán và liên thanh toán.
Trên vé còn in nội dung như hướng dẫn hành khách.
Quá trình mua vé máy bay cũng tương đối rườm rà, cần nhân viên bán vé điền thông tin vé bằng tay.
Và khi làm thủ tục lên máy bay, phải đối chiếu vé giấy và chứng minh thư.
Nhân viên mặt đất sẽ đóng dấu lên thẻ lên máy bay và thẻ hành lý, dán số ghế.
Quy định này mãi đến ngày 10 tháng 6 năm 1993 mới bị bãi bỏ.
Người dân bình thường mới có thể chỉ cần chứng minh thư và các giấy tờ hợp lệ khác để mua vé máy bay.
Bán giấy giới thiệu này cũng kiếm được kha khá.
Nhưng, phải có quan hệ.
Giấy giới thiệu vẫn rất dễ xin, nếu bạn là nhân viên của đơn vị, thì bạn tìm lãnh đạo hoặc bộ phận liên quan của đơn vị.
Giải thích rõ ràng với họ tại sao bạn cần đi máy bay?
Đi công tác, hay việc khác?
Lãnh đạo thông thường cũng cân nhắc kỹ lưỡng, dù sao giấy giới thiệu cũng không thể tùy tiện cấp.
Một số lãnh đạo khó tính sẽ xác minh xem việc này có thật không.
Sau đó ghi rõ thân phận, lý do, điểm đến của bạn vào giấy giới thiệu.
Tất nhiên, thông thường nếu bạn nhét một chút phong bì đỏ, thì đều sẽ được duyệt.
Phía Vương Hướng Dương thì đơn giản hơn, chủ yếu là vì anh ở Bắc Kinh.
Bắc Kinh là thủ đô của Tung Của, ở đây có rất nhiều ông chủ lớn có nhu cầu đi máy bay công tác.
Vương Hướng Dương đến phường, trình bày hoàn cảnh của mình với nhân viên, bọc một phong bì đỏ, và nhận được giấy giới thiệu.
Tất nhiên phong bì đỏ này cũng không nhỏ, 100 tệ.
Đây là vì anh là người nổi tiếng trong vùng.
Nếu là người dân bình thường khác, ít nhất cũng phải 200 tệ, bằng một tháng lương.
Vì vậy, cái nghề xin giấy giới thiệu này thực sự kiếm được tiền.
Sau khi nhận được giấy giới thiệu, Vương Hướng Dương cẩn thận đặt nó vào két sắt và khóa lại.
Vì đến sân bay, vẫn phải đưa giấy giới thiệu ra cho nhân viên liên quan kiểm tra.
Vừa khóa két sắt xong, thì nghe thấy tiếng Chu Tuyết gọi nhỏ ngoài cửa.
Vương Hướng Dương khoác một chiếc áo khoác quân đội đi ra ngoài, mấy ngày nay Bắc Kinh bắt đầu có tuyết rơi, nhiệt độ giảm mạnh.
Thời gian trước, gia đình Vương Hướng Dương cũng bận túi bụi.
Mùa đông ở Bắc Kinh, nhà nào cũng phải tích trữ khoai tây, bắp cải, hành lá, củ cải.
Bận rộn muốn chết, chỉ để dự trữ lương thực qua đông.
Gia đình Vương Hướng Dương mới đến Bắc Kinh, còn chưa biết chuyện này.
Đến khi mẹ thấy nhà nhà đều khẩn trương may áo bông, giày bông, tích trữ lương thực.
Nhìn họ tháo cửa sổ giấy lụa ở nhà một tầng, dán giấy cửa sổ mới.
Cửa ra vào treo rèm bông, và sửa chữa giường sưởi ấm.
Còn nhiều người xem lịch, chọn ngày lành tháng tốt để động thổ, phá bỏ và xây lại giường sưởi.
Cả nhà họ mới nhận ra, vội vàng đi hỏi thăm tình hình.
Biết cách làm rồi, nhà hàng xóm làm gì, nhà họ làm theo đó.
“Tháng chạp, tháng chạp, quạ rét chết cóng.”
“Táo đỏ chuyển màu, lão ăn mày ôm vai.”
Những câu cửa miệng này bắt đầu xuất hiện trong miệng mẹ.
Bất quá, mùa đông Bắc Kinh quả thực băng tuyết phủ kín trời, giá lạnh thấu xương.
Nghe nói trước đây trang phục thường là “đầu đội mũ ba mảnh, mình mặc áo bông, chân đi giày lông lạc đà, tay đeo bao tay”.
Sau này, người dân Bắc Kinh đều mặc áo bông nhỏ, quần bông to, mũ bông kiểu Lôi Phong hoặc mũ trùm, chân đi giày bông to có dây buộc.
Dù già trẻ, trai gái đều mặc rất dày, cả người tròn trịa như gấu lớn.
Nói đến quần áo ấm nhất mùa đông, vẫn là áo bông to do mẹ hoặc bà làm.
Còn có đội vào là không bao giờ sợ lạnh tai, đó là mũ bông quân đội cũ.
Còn có bao tay bông to có thể đeo qua cổ, giày bông nhung có lỗ thông hơi, những thứ này đều là dấu hiệu của người sành điệu.
Trước tiết lập đông, người dân trong tứ hợp viện, đại tạp viện và nông thôn đều phải chuẩn bị cho mùa đông giá rét.
Trong sân sẽ có đống bắp cải và than tổ ong, còn có hũ dưa chua và hũ dưa cải muối của mỗi nhà.
Mùa đông nhà nào cũng đốt lò sưởi.
Dưới đất cạnh ống khói, đều là những cột băng do dầu khói nhỏ giọt tạo thành.
Nhà có điều kiện còn treo một cái xô nhỏ dưới miệng ống khói để hứng dầu khói.
Vương Hướng Dương cảm thấy không cần làm mấy thứ này, chỉ cần mua quần áo và rau là được.
Còn giường sưởi, thì bật điều hòa là xong.
Kết quả bị mẹ mắng cho một trận.
Mùa đông rau đắt thế nào, quần áo đắt thế nào.
Bật điều hòa một ngày tốn bao nhiêu tiền, tự tích trữ rau mới tốn bao nhiêu, tự đan áo len giày bông mới tốn bao nhiêu, đốt than một ngày tốn bao nhiêu?
Mẹ tính cho anh rõ ràng, không những tính rõ mà còn không cho anh bật điều hòa.
Đến khoảng 7, 8 giờ tối hàng ngày, đầu phố lại có người ra gọi đóng đồng hồ nước.
Ý là trời lạnh, sợ nhiệt độ ban đêm thấp làm vỡ ống nước, mỗi nhà phải dự trữ nước dùng ban đêm.
Mỗi sân có một giếng đồng hồ nước dưới đất, sau khi khóa van tổng, phải xả hết nước đọng trong ống nước.
Còn việc xuống giếng đóng van nước thường do mấy cậu bé nửa lớn làm, vì chúng leo trèo nhanh nhẹn hơn.
