"Nhà ông ấy thì không có vấn đề gì, chỉ có lão Giả là rắc rối thôi. Các cháu không biết đâu, lão Giả này ở nhà thường hay bắt chước mấy bà đồng bóng, ngày nào cũng vẽ vẽ trên giấy vàng, bảo là vẽ bùa. Bao nhiêu năm nay, ta cũng chẳng thấy lão vẽ cái gì ra hồn, cũng chẳng thấy lão dùng mấy lá bùa đó làm được việc gì to tát. Hồi thời kỳ đặc biệt, lão còn bị coi là đồng cốt lừa bịp, bị lôi ra phê bình đấu tố đấy." Dì tôi tỏ vẻ coi thường chuyện lão Giả vẽ bùa.
Không ngờ được, nếu lời dì nói là thật, thì lão Giả này còn là người của Đạo giáo đấy. Nhưng nghe cách dì kể, có lẽ cả đời lão cũng không chạm được đến ngưỡng cửa của phù lục, bằng không thì đâu đến nỗi sống khổ sở trong cái thôn nhỏ này, chết rồi còn phải nhờ mọi người góp tiền mới chôn cất được.
Phải biết rằng, thời hiện đại cũng có những cao đồ Đạo giáo biết vẽ bùa, họ vẽ mỗi lá bùa là người ta trả cả nghìn vàng khó cầu, nên họ ở biệt thự, đi xe sang. Tất nhiên cũng có không ít cao nhân ẩn dật, xem thường danh lợi, lui về ở ẩn nơi thôn dã, nhưng người không màng danh lợi như vậy vẫn là số ít. Còn trường hợp như lão Giả thì trông chẳng giống cao nhân ẩn dật chút nào.
"Dì, chỉ cần nhà cửa không vấn đề là được. Lão Giả thế nào thì cũng đã chết rồi mà." Khương Trí nói với dì rằng chúng tôi mua nhà, chỉ cần nhà cửa ổn thỏa là được.
"Thế nếu các cháu mua rồi cứ để không như vậy à?" Dì đã chấp nhận chuyện chúng tôi mua nhà, giờ bắt đầu chê chúng tôi phí của.
"Chẳng phải có dì và dượng đây sao? Lúc nào rảnh thì qua trông nom giúp cháu. Bình thường không bận gì, cháu cũng có thể bảo mẹ cháu qua ở thêm vài ngày." Cách nói này làm dì tôi xiêu lòng, nghĩ nếu chị gái mình có thể thường xuyên qua ở thì cũng tốt.
"Thôi được, lát nữa để dượng cháu qua nhà trưởng thôn hỏi thử. Dạo này trưởng thôn cũng đang sốt ruột, vốn định bán căn nhà để trả nợ cho lão Giả, nhưng nhà ông ấy ở xa, tận cuối thôn phía đông, sát ngay núi lớn, chẳng ai mua. Căn nhà đó nếu cứ để trống thêm vài năm nữa thì chắc chắn sẽ hỏng mất." Nghĩ thông rồi, dì tôi hành động rất nhanh.
Lúc dì bắt đầu nấu cơm thì giục dượng qua nhà trưởng thôn hỏi chuyện nhà cửa.
Dượng tôi về rất nhanh. Trưởng thôn vui lắm vì có người mua nhà, cũng không hét giá quá cao, 200 nghìn tệ là bán, còn tặng kèm hai mẫu ruộng nước của lão Giả và quyền thuê mười mẫu rừng thông trong mười năm.
Điều kiện kèm theo này làm tôi thấy khá hấp dẫn, nhưng chúng tôi vẫn hỏi ý kiến dì và dượng.
Dì vẫn chê đắt.
Dượng thì bảo, căn nhà đó đáng giá như vậy rồi.
Chúng tôi định sáng mai qua xem nhà rồi quyết định, thực ra trong lòng cả hai đều nghĩ, chỉ cần căn nhà đó ở được là mua.
Chuyện nhà cửa xem như đã chốt, chúng tôi yên tâm ăn cơm. Ăn xong, tôi muốn ra sức thể hiện nên vào bếp rửa bát. Chưa rửa xong thì đã nghe tiếng Tần thím gọi vang cả sân.
"Thục Cúc, ăn cơm xong chưa?" Chắc bà ấy đứng ngoài sân dòm ngó chúng tôi, thấy chúng tôi vừa đặt bát đũa xuống là bà liền sang ngay.
"Chị Tần đến rồi à, mời vào, mời vào." Dì tôi nhiệt tình đón tiếp.
"À, tôi mang ít đặc sản rừng cho thằng cháu đây này." Tần thím ngại ngùng gãi đầu, có lẽ sợ chúng tôi đổi ý, muốn bán vội đống hàng cho chúng tôi.
"May nhờ có chị Tần giúp, chứ nói thật chứ, chỗ của tôi có đáng bao nhiêu mà biếu chúng nó!" Dì tôi khéo ăn khéo nói, vài câu đã giải vây cho Tần thím.
"Chị đừng nói vậy, thằng cháu mua hàng của chúng tôi lúc này là chúng tôi mang ơn nó rồi." Tần thím vội đáp.
"Thôi, chuyện trò để lúc khác, mình làm việc chính trước đã." Dượng tôi là người biết việc nhất.
Dì tôi từ trong kho lấy ra cái cân to mà dượng mượn được lúc qua nhà trưởng thôn, chuẩn bị cân hàng. "Chị Tần, thằng Tí với con bé nó không chỉ mua cho mình đâu, còn mua giúp người khác nữa. Nên mình anh em rành rẽ cho rõ, cứ theo số cân mà tính, được chứ?"
"Được, phải vậy chứ, không thể để thằng cháu thiệt được."
Rồi họ đem mấy bao tải đặc sản ra cân.
Tổng cộng được 643 cân, trong đó có gần 150 cân hạt thông, 340 cân quả óc chó, còn lại là hạt dẻ.
Tần thím lại ngại ngùng mang ra một rổ rau khô vừa phơi, hỏi có thu không. Chúng tôi thu, nhưng rau dại đang vào mùa, đồ nhiều thì không đáng giá, nên giá thấp thôi. May là Tần thím cũng không có ý định bán giá cao, chắc bị chuyện năm ngoái làm cho sợ rồi, bán được đồng nào hay đồng đó.
Chúng tôi bảo Tần thím mai lên huyện lấy tiền rồi sẽ mang qua trả, Tần thím vội nói: "Không vội đâu, tôi còn lạ gì con bé Thục Cúc chứ." Nói xong bà vui vẻ ra về.
Sau khi bà về một lúc, lại có mấy người dân trong thôn nghe tin chúng tôi thu mua đặc sản, xách đồ nhà mình sang hỏi thăm. Chúng tôi không từ chối ai, chỉ cần hàng tốt là nhận hết.
Thế là chúng tôi bận rộn cả hai tiếng đồng hồ. Đủ loại đặc sản đủ cả, nào táo tàu, mơ khô, thịt rừng xông khói, đến cả trứng gà thả vườn, trứng vịt, trứng ngỗng cũng có. Thực ra trong không gian của chúng tôi cái gì cũng có, chất lượng còn tốt hơn của họ nữa, nhưng nhìn ánh mắt hy vọng của họ, lời từ chối cứ nghẹn lại trong cổ họng không nói ra được. Dù sao tôi cũng không nói nổi, thấy số lượng cũng chẳng nhiều nhặn gì, nên chúng tôi nhận hết.
Trong sân cũng thắp lên bóng đèn tròn 100W, chiếu sáng cả sân.
Mọi người bán xong hàng cũng không vội về, người ngồi người đứng trong sân, chuyện trò với chúng tôi.
Ở trong cái thung lũng này, chẳng có sinh hoạt về đêm. Tối đến ăn cơm xong, mọi người hoặc ở nhà xem tivi, hoặc xách ghế nhỏ, cầm quạt nan, ra đầu làng tìm người quen hàn huyên, chuyện trò.
Hôm nay chúng tôi thu mua đặc sản ở nhà dì, sân trở nên nhộn nhịp, nên mọi người đều không về, tụ lại nói chuyện, đánh bài. Dượng tôi ngồi xổm dưới đất, hút thuốc lào, chuyện trò gì đó với mấy ông già.
Trong sân còn có mấy đứa trẻ con, chạy khắp sân, thỉnh thoảng lại thò tay vào mấy bao tải đặc sản móc ra ít hạt thông, hạt dẻ bỏ vào miệng nhai giòn rụm. Đúng là răng chắc thật.
Thực ra bọn trẻ cũng chẳng thèm mấy thứ đó, nhà chúng có đầy, ở nhà chẳng buồn ăn, nhưng mấy đứa tụ lại với nhau lén lút ăn vụng thì lại thấy ngon lạ thường. Tôi có con trai, từng làm giáo viên (thực ra bây giờ vẫn là giáo viên, chỉ là không lên lớp thôi), nên tôi rất hiểu tâm lý này của bọn trẻ. Tôi coi như không thấy, với lại mấy đứa nhỏ thì ăn được bao nhiêu.
