Đi Thành Ngầm Đổi Nhiên Liệu
“Để thúc đẩy lưu thông vật tư, tạo điều kiện cho đời sống nhân dân, từ hôm nay các trạm vật tư mở dịch vụ đổi đồ. Người dân có nhu cầu có thể đến trạm gần nhất, tự do trao đổi những vật phẩm dư thừa của mình. Tại hiện trường có cảnh sát vũ trang túc trực, đảm bảo an toàn, trật tự cho việc giao dịch.”
Loa phát thanh ở quảng trường trung tâm lại vang lên.
Trần Tuyết Dung nghe vậy, không mấy để tâm.
Đổi đồ đã tồn tại từ lâu giữa những người sống sót. Trước đây cô từng đi một lần, ở chợ nông sản, do mọi người tự tổ chức, đổi những thứ như bánh mì quá hạn, gạo mốc và đồ dùng sinh hoạt không quan trọng. Thậm chí có người vì không thống nhất được tỷ lệ đổi mà đánh nhau ngay tại chỗ, còn có cả trường hợp giật đồ.
Nhưng lần này là do chính quyền công nhận, lại có cảnh sát vũ trang đứng gác, chắc... sẽ khá hơn.
Trạm của Trần Tuyết Dung nằm ngay cạnh quảng trường trung tâm, chỗ trước đây dùng để xếp hàng nhận vật tư, giờ được ngăn ra một khu vực, bày vài chiếc bàn dài, lác đác vài người ngồi.
Trên bàn chất đống vài thứ: vài chiếc áo bông cũ, vài gói bánh quy quá hạn, một chồng sách cũ, mấy cái ca men và chậu rửa mặt không rõ màu sơn ban đầu, còn có người bán dưa muối nhà làm, đựng trong lọ thủy tinh, miệng lọ bịt kín bằng nilon.
Trần Tuyết Dung đi một vòng quanh, không thấy thứ mình cần.
Cô thiếu nhiên liệu. Nhà kính muốn trồng lại rau, cần nhiên liệu để duy trì nhiệt độ thích hợp. Chỗ nhiên liệu cô đang có chỉ đủ cho ba người một chó sống trong căn hầm nhỏ.
Nhưng ở trạm không có ai bán nhiên liệu. Thứ đó quý giá, người ta còn không đủ dùng, ai lại mang ra đổi chứ?
Cô trở về nhà tay không.
Buổi tối, cô nằm trong lều mà suy nghĩ.
Dịch bệnh đã lắng xuống, lũ gấu hoang cũng biến mất, thời tiết cũng tạm ổn. Nhà kính bỏ không gần ba tháng, đất đã đóng băng cứng ngắc. Trong tay có đủ hạt giống, bỏ không thì tiếc quá.
Nhưng trồng rau thì phải đốt nhiên liệu, nhiên liệu lấy đâu ra? Cứ dựa vào chiếc xe ba bánh nhỏ từng chuyến lên núi Thần Hỏa chặt củi vác về thì mệt lắm.
Cô chợt nhớ đến một nơi.
Thành ngầm.
Chính quyền trước đây từng phát thanh, thành ngầm được xây ở phía đông thành phố Tức, khoét rỗng lòng núi, có thể chứa vài vạn người. Có hệ thống sưởi, có khu nông nghiệp, khu chăn nuôi, kho vật tư, còn có cảnh sát vũ trang canh gác. Rất nhiều người đã chạy đến đó.
Cô chưa từng đến bao giờ.
Trước đây đi lên núi Thần Hỏa chặt củi, cô từng nhìn thấy từ xa, cổng vòm mờ mờ trông rất hoành tráng. Vương Duyệt từng nói, bên thành ngầm có một khu chợ, lớn hơn nhiều so với các trạm trên mặt đất, thứ gì cũng có thể đổi được, biết đâu đổi được nhiên liệu.
Cô phải đi một chuyến.
Sáng hôm sau, cô sạc đầy pin cho xe ba bánh, mang theo một cục sạc dự phòng đầy điện, dặn Hoàng Bảo trông chừng hai đứa nhỏ, rồi một mình lái xe về hướng đông thành phố.
Phía đông thành phố mấy năm nay mới được phát triển. Càng đi về phía đông, nhà cửa càng thưa, đất trống càng nhiều. Từ xa, bóng núi đen sì như đang ngồi chồm hổm ở chân trời, tựa một con quái vật đang nằm rình.
Chiếc xe ba bánh chạy bình bịch trên tuyết, xóc đến nỗi cô tưởng xương cốt sắp rời ra.
Đi hơn một tiếng, cuối cùng cô cũng nhìn thấy cửa vào thành ngầm.
Đó là chân một ngọn núi, vách núi bị cắt gần như thẳng đứng, phía trên phủ tuyết, phía dưới lộ ra một cổng vòm khổng lồ. Cổng cao đến bảy tám mét, rộng bốn năm mét, đen ngòm há ra, như cái miệng khổng lồ của núi.
Hai bên cổng có cảnh sát vũ trang đứng gác, súng đạn đầy mình, áo khoác quân đội bọc kín mít, trên vành mũ đóng một lớp sương.
Cô tắt máy, dắt bộ xe đi tới.
“Giấy tờ.” Một cảnh sát vũ trang trẻ tuổi đưa tay ra.
Cô đưa chứng minh thư.
Anh cảnh sát nhìn một lượt, lại ngẩng lên nhìn cô một cái, hỏi: “Lần đầu đến à?”
“Vâng.”
“Vào trong đi thẳng, qua hai cửa, sẽ có người đón. Xe để ngoài này, bên trong không được vào.”
Cô để xe ba bánh ở nơi quy định, đeo ba lô lên vai, bước vào cổng vòm khổng lồ.
Bên trong cổng tối om, đi được hơn chục mét, trước mắt bỗng sáng sủa rộng rãi.
Cô đứng đó, sững người.
Trên đầu là vòm trần cao hàng chục mét, đổ bê tông cốt thép, gắn những dãy đèn sáng chói. Dưới chân là nền xi măng phẳng lì, rộng đến mức năm chiếc xe tải có thể chạy song song. Nhìn sang hai bên, là những dãy nhà san sát, không phải lều tạm bợ, mà là những căn nhà tử tế, xây bằng gạch xám, có cửa có sổ, ánh đèn hắt ra từ sau ô kính.
Có người đang đi lại, có người đang trò chuyện, xa xa còn nghe thấy tiếng máy móc gầm rú.
Trần Tuyết Dung đứng đó, không nhúc nhích.
Đã lâu lắm rồi cô mới thấy lại cảnh tượng như thế này.
Trên mặt đất luôn là tuyết trắng, trời xám xịt, đường phố vắng tanh, nhà cửa chết lặng. Thỉnh thoảng gặp một người, cũng là bọc kín mít, cúi đầu bước vội, chẳng ai nhìn ai.
Nhưng ở đây khác hẳn.
Ở đây có người cười, có người chạy, có người vận hành máy móc. Ở đây đèn sáng, lò sưởi cháy, những dãy nhà gạch xám san sát đứng thẳng, như một thế giới khác.
Bà Dư Thúy Anh, mẹ chồng cô, chẳng phải đã nói thành ngầm không phải chỗ cho người ta sống sao? Sao lại...
Đang lúc suy nghĩ, một người phụ nữ trung niên mặc đồng phục bước tới.
“Lần đầu đến à?”
Trần Tuyết Dung hoàn hồn, gật đầu.
“Vào ở hay là giao dịch?”
“Giao dịch.”
Người phụ nữ trung niên chỉ tay về bên trái: “Đi thẳng, đến ngã ba thứ ba rẽ phải, thấy chỗ đông người là đến.”
Trần Tuyết Dung cảm ơn cô ta, rồi đi về hướng đó.
Trên đường đi, cô không kìm được mà nhìn ngang nhìn dọc.
Đi ngang qua một dãy hàng bán đồ ăn, quả thật có người bán đồ ăn, còn bốc hơi nóng nghi ngút, không phải mấy cái bánh bao ngô đông cứng. Có một hàng bán khoai lang nướng, trên lò sắt đặt vỉ nướng, khoai để trên đó nướng đến chảy mỡ, mùi thơm ngọt ngào lan tỏa ra rất xa.
Còn có một hàng bán mì, nồi nước sôi sùng sục, một người phụ nữ đang gắp mì ra bát, bên cạnh có mấy người đang cúi đầu ăn ngon lành.
Cô đi ngang qua những hàng quán đó, bước chân chậm lại.
Đến ngã ba thứ ba rẽ phải, quả nhiên thấy chỗ đông người.
Đó là một khu đất trống rộng rãi, xung quanh bày la liệt các sạp hàng, ở giữa chật kín người. Có người ngồi xổm dưới đất, trước mặt bày vài món đồ, lại có người đứng trước sạp, mặc cả với chủ hàng.
Cô bước vào, xem từng sạp một.
Có sạp bán quần áo cũ, bán xoong nồi bát đĩa, bán sách vở bút chì, bán dưa muối rau khô nhà làm. Còn có người bán gà, gà thật, gà sống, hai con gà mái nhốt chung trong một cái lồng tre, kêu cục tác.
Cái miệng bà mẹ chồng cô đúng là chẳng đáng tin.
Cô đi một vòng, không thấy ai bán nhiên liệu.
Đi đến sạp cuối cùng, cô dừng lại.
Đó là một ông lão, trông rất có tinh thần, mặc chiếc áo bông đã giặt đến bạc màu, ngồi xổm dưới đất. Trước mặt ông bày vài thứ: đậu tương, đậu xanh, ớt khô, và một sọt củi.
Than củi không to, đa phần là vụn, nhưng đúng là củi thật.
Cô ngồi xổm xuống.
“Củi này đổi thế nào?”
Ông lão ngẩng đầu nhìn cô, nheo mắt đánh giá một lượt.
“Cô có gì?”
Cô lôi từ trong ba lô ra vài thứ: một túi gạo và một túi bột mì, mỗi túi năm cân, một hũ dầu lạc nhỏ khoảng một cân, và ba bánh xà phòng. Đều là đồ cô mang từ căn nhà cũ của bố Lạc Lạc ra, cô đã chọn những thứ có thể mang theo.
Ông lão nhìn một lượt, rồi đưa tay bóp thử túi gạo.
“Gạo này ngon đấy.”
“Gạo ngon.” Cô không nói thêm.
