Chương 20: Hái nấm
Cô lắc mạnh đầu để gạt bỏ những thứ kỳ lạ vừa hiện lên trong đầu.
Cô hiểu rõ nhất hậu quả mà một mối tình không hạnh phúc mang lại.
Triệu Diệp Thanh uống một hơi cạn ly mật ong ấm.
Mật ong này là mật ong rừng mà Phùng Xuân Yến đưa cho cô, thơm đặc biệt.
Suy nghĩ trong đầu cô tiếp tục lan man...
Nếu có cơ hội gặp tổ ong, không biết cô trùm cái thùng lên người thì có thể mang mật ong về nhà nguyên vẹn không nữa.
Cơn mưa này xem ra tạm thời không tạnh được, Triệu Diệp Thanh dậy sớm, giờ đang nghĩ hay là đi ngủ một giấc.
Nhưng lại sợ ngủ bây giờ, chưa đến tối đã tỉnh, rồi lại phải thức đến tận chiều hôm sau mới ngủ được.
Cảm thấy hơi chán, không muốn buồn ngủ mà ép mình tỉnh táo, cô đi lòng vòng trong nhà.
Kiểm kê lại lượng thực phẩm dự trữ đã tiêu thụ gần đây.
Thịt đông lạnh sắp hết, chỉ còn lại khoảng mười cân thịt xông khói và lạp xưởng, rau đã không còn, chỉ còn hai vò dưa muối.
Dầu còn hai thùng, muối thì vẫn còn nhiều, lúc đó vì muối dưa mà mua những hai mươi cân.
Gạo còn hơn năm mươi cân, bột mì mười lăm cân, còn vài cân bột gạo và bột nếp.
Triệu Diệp Thanh xịu mặt xuống, thật ra cô là người thích ăn thịt và tinh bột, với lượng thức ăn dự trữ này, dựa theo khối lượng công việc hiện tại của cô, nhiều nhất cũng chỉ đủ dùng chưa đến năm tháng.
Đó là còn tính đến chuyện ăn dè xẻn.
Trong số hạt giống rau mà Phùng Lập Hiên đưa cho cô trước đây, cũng không có hạt giống lúa và lúa mì.
Ai mà biết được rằng có ngày cô phải tự trồng lúa để ăn chứ!
Ăn khoai tây, khoai lang không phải là không sống được, nhưng sống qua ngày và tận hưởng cuộc sống là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.
Ai mà chẳng muốn ăn ngon hơn.
Triệu Diệp Thanh nhớ lại cảnh tượng nhìn thấy từ tháp quan sát hôm đó, vết nứt bên phải đứt gãy tại vách đá cheo leo, vết nứt bên trái cô không nhìn thấy điểm cuối, cây cối quá rậm rạp.
Trong khu vực cô bị mắc kẹt này, không có người sinh sống.
Nhưng hình như ở chân núi, trong khu vực bị bao quanh, có mấy thửa ruộng lúa.
Cô nhớ thời vụ gieo lúa chiêm là từ cuối tháng ba đến đầu tháng tư, lúc trước khi xuống núi cô đúng là không thấy có thứ gì mọc lên trên mấy thửa ruộng đó, biết đâu là đã gieo rồi nhưng chưa kịp mọc thì sao?
Ở quê cô trồng lúa cơ bản là hai vụ, lúa chiêm thì gieo thẳng, đỡ tốn công sức, nhược điểm là hơi ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm, lúa mùa thì sợ nóng và mưa nhiều, nên phải cấy mạ để tăng năng suất.
Theo lý mà nói, bây giờ đã hơn mười ngày kể từ khi mặt đất nứt, nếu lúa đã gieo thì cũng đã nảy mầm rồi, đợi ngày mai trời tạnh, cô muốn đi xem thử.
-
Mưa rơi suốt hai ngày liền, người ta thường nói mưa xuân quý như dầu, quả không sai.
Không nói đến chuyện sau cơn mưa này, rau của cô trông thấy rõ là cao hơn hẳn, điều khiến cô vui mừng nhất là khi cô bắt đầu xuống núi đi xem ruộng, cô phát hiện trong rừng mọc lên không ít nấm.
Tiếc là không mang theo giỏ, Triệu Diệp Thanh ghi nhớ vị trí của mấy cây nấm hương dại to, lát nữa quay lại nhất định phải thu vào túi.
Mấy thửa ruộng đó nằm không xa ven đường, tính ra cũng là ruộng của bà nội cô, chỉ là bà không thích làm ruộng, ông nội cũng không cho bà đi, nên năm đó sau khi cưới nhau không lâu thì cho người khác thuê trồng.
Mỗi năm đến mùa gặt, bà nội đều xuống núi mua gạo mới, gạo vừa gặt xong nấu lên có thể ăn được lớp váng cơm thơm phức.
Cô lần lượt đi quanh năm thửa ruộng lúa duy nhất trong phạm vi dưới chân núi, nguồn nước dưới chân núi đã bị chặn đứt, mặc dù hai ngày trước có mưa, nhưng trong ruộng không có nước, chỉ là đất ẩm thôi.
Chỉ cần có độ ẩm, hạt giống lúa hẳn là vẫn có thể nảy mầm, năm thửa ruộng mà Triệu Diệp Thanh xem, chỉ có một thửa có vài mầm non nhú lên, mà cũng chỉ lưa thưa vài cây.
Chắc là không phải do gieo trồng, mà là do sót lại từ trước.
Nói cách khác, năm nay mấy thửa ruộng này không hề gieo lúa chiêm.
Triệu Diệp Thanh hơi chán nản, trèo từ bờ ruộng lên mặt đường.
Mấy cây này cứ để chúng tự sinh tự diệt vậy, nếu mấy tháng sau chúng sống sót, cô sẽ đến thu hoạch để dành làm giống.
Trên đường về nhà cô cũng không quên mang mấy cây nấm hương dại về.
Nấm hương thường mọc trên những khúc gỗ mục nát, ngoài nấm hương ra còn rất nhiều loại nấm khác cũng thích ký sinh trên gỗ, ví dụ như mộc nhĩ đen.
Nấm hương dại có màu sắc ở giữa đậm, mép vàng nhạt, mũ nấm phẳng và nhẵn hơn, không cuộn vào trong như nấm mua ngoài chợ, mùi thơm cũng không hoàn toàn giống, có một chút mùi gỗ thoang thoảng.
Triệu Diệp Thanh bưng mấy cây nấm về nhà, chưa đầy vài phút sau, lại đeo chiếc giỏ nhỏ bên hông đi ra.
Bây giờ không đi hái nấm thì đúng là thiệt lớn, chuyện xây tường bao cũng không phải lúc nào xong được.
Nói đến nấm, thì nấm gà, nấm mồng gà, nấm tùng nhung và nấm tre là món cô thích nhất, còn có nấm kê tùng và nấm bò tơ nữa, chỉ là mùa này không hái được.
Triệu Diệp Thanh đi về hướng rừng trúc, dọc đường tìm được hơn mười cây nấm tùng nhung, loại nấm này dù nấu canh, xào trực tiếp hay phơi khô rồi ăn đều vô cùng ngon.
Tiếc là mùa xuân mọc ít, đợi đến lúc giao mùa hạ thu, nếu may mắn thì ăn không hết.
Nấm mồng gà phải ở độ cao lớn hơn mới có, nấm gà cũng khó thấy, ngược lại hái được mấy cây nấm san hô, hình dạng không giống nấm thường, trông giống san hô dưới biển.
Đến rừng trúc, Triệu Diệp Thanh cúi người cẩn thận tìm nấm tre, bình thường thấy nấm tre khô bán ngoài chợ màu trắng, thật ra trên đầu nấm tre có một cái mũ màu đen, dùng để phát tán bào tử, có mùi hơi hôi, có người không ăn được nên sẽ ngắt bỏ đi.
Khu rừng trúc này khá nhỏ, nhưng cũng để cô tìm được mấy cây nấm tre, nấm tre thì hoặc là ăn tươi, hoặc là phải sấy khô ngay, không thì sẽ bị đen.
Sau mưa, mặt đất trong rừng trúc phủ một lớp lá trúc, phải rẽ lá ra mới thấy được những cây nấm nhỏ giấu bên trong.
Vòng ra sau rừng trúc tìm được mấy cây nấm tùng nhung, men theo rừng trúc đi lên núi, đi đến gần ao nước nhỏ thì không tìm thấy nấm nữa, ngược lại cho cô thấy một mảng rau diếp cá dại.
Chiếc giỏ bên hông đã đựng được nửa giỏ nấm, ăn cho đã là không được, nhưng để giải thèm thì vẫn đủ.
Mảng rau diếp cá này là niềm vui bất ngờ.
Vẫn còn là những mầm non, mầm trắng muốt chưa mọc lá.
Triệu Diệp Thanh không khách sáo, cúi xuống bẻ từng cọng một, được một nắm to.
Cô gần như không kén ăn, ngoại trừ mấy món kỳ lạ như trứng non, trứng gà ấp dở thì cô không ăn được, còn lại ngay cả côn trùng cô cũng có thể ăn.
Không biết từ lúc nào đã đi đến bên ao nước, dạo này trời mưa, nước ao không còn trong như trước nữa, mực nước cũng dâng cao hơn, dòng nước phía thượng nguồn cũng chảy xiết hơn.
Triệu Diệp Thanh chợt nhớ ra hình như mấy hôm trước cô có thả một cái lồng bắt cá.
Cuộc sống diễn ra quá phong phú, nào là lợn rừng, nào là gấu, cô thật sự không nhớ ra cái lồng bắt cá nhỏ này nữa.
Cô gỡ mấy hòn đá phía trên ra, nhấc lồng bắt cá lên, chiếc chai trong suốt có thể nhìn thấy từ bên ngoài không ít con cá nhỏ đang quẫy đuôi bên trong.
Có hai ba con đã không cử động nữa, không biết có phải bị nhốt trong đó quá lâu nên chết đói không, thỉnh thoảng miệng chai cũng có rong rêu và tép nhỏ trôi vào, nên đa số vẫn còn khá khỏe.
Bên bờ nước có mấy cây khoai nước dại, lá rất to, có thể dùng để múc nước mang cá về, nó có khả năng chịu nước hơi giống lá sen.
Lá khoai nước và lá cây thủy vu (một loại cây cảnh có độc) trông rất giống nhau, cô phân biệt kỹ một chút, xác định là lá khoai nước rồi mới bẻ.
Dù sao cây thủy vu có độc, chạm vào nhựa tiết ra từ thân lá là da sẽ bị ngứa.
