Chương 12: Ngôi làng chuẩn bị chạy nạn
Chu Vân Thù và mấy người gặp may, trước khi trời tối đã tìm được một ngôi làng.
Nàng vén rèm xe, nhìn lũ trẻ đang nắm tay nhau hét to chạy vào làng vì thấy xe la lạ tiến vào, rồi bảo Xuân Tước đánh xe lên phía trước.
Vừa tới đầu làng, xe la đã bị một nhóm người chặn lại.
“Các người là ai, đến làng chúng tôi làm gì?” Người hỏi là một người đàn ông mặt vuông, da đen sạm.
Chu Vân Thù vén rèm xe, nhìn người đàn ông cười nói: “Anh ơi, chúng tôi lên thành Đồng tìm thân thích, muốn xin ngủ nhờ một đêm trong làng.”
Người đàn ông mặt vuông thấy Chu Vân Thù nói năng có chừng mực, văn vẻ như một người có học, trong lòng cũng bớt cảnh giác.
“Các người đến cũng khéo, nếu muộn thêm một ngày, chắc làng chúng tôi đã vắng một nửa rồi.”
Chu Vân Thù ngạc nhiên ngước mắt, nàng bước xuống xe, nhìn người đàn ông mặt vuông hỏi: “Có chuyện gì vậy ạ?”
“Còn chẳng phải tại hạn hán!”
Người đàn ông mặt vuông cũng chẳng muốn nói nhiều với người lạ, chỉ nói: “Ngủ nhờ thì được, nhưng không phải không công đâu nhé.”
Chu Vân Thù gật đầu, “Cái này chúng tôi biết ạ.”
Người đàn ông mặt vuông thấy Chu Vân Thù cũng biết điều, nói: “Nhà tôi ngày mai sẽ đi chạy nạn, vừa dọn ra mấy căn phòng, có thể nhường cho các người một gian.”
“Cảm ơn anh.”
Đúng như người đàn ông mặt vuông nói, cả làng rất náo nhiệt, phần lớn là tiếng ồn ào thu dọn hành lý và tiếng từ biệt.
Không phải ai cũng muốn rời bỏ quê hương, nhất là người già, thà chết ở nhà còn hơn phải tiếp tục phiêu bạt.
Nhà người đàn ông mặt vuông ở ngay đầu làng, anh ta dẫn Chu Vân Thù và mọi người về nhà đã thu hút sự chú ý của hàng xóm, nhưng người quan tâm nhất vẫn là người nhà anh ta.
“Anh hai, ai đây?” Một người đàn ông trông chừng hai mươi mấy tuổi tò mò quan sát xe la và Chu Vân Thù đang đứng cạnh anh hai mình.
Khí chất của người này còn hơn cả ông cử nhân mà hắn từng thấy ở huyện, chắc cũng có học vị trong người nhỉ.
“Khách đến ngủ nhờ, phòng của em gái dọn ra rồi, cho khách ở phòng đó.”
Đỗ Nhị nói xong, Đỗ Tam liền gọi to về phía nhà chính: “Em gái! Em gái!”
“Đừng gọi nữa!” Một cô bé mười bốn, mười lăm tuổi mặt tròn nghe tiếng anh trai liền chạy ra khỏi phòng, nhanh nhảu nói: “Anh gọi hồn đấy hả anh ba!”
Nói xong, khi thấy trong sân không chỉ có anh trai mình, nhìn Chu Vân Thù đang tươi cười, mặt cô bé đỏ bừng.
Cô còn tưởng trong nhà chỉ có người nhà thôi!
“Gọi em làm gì?” Giọng cô bé bỗng trở nên thẹn thùng hơn nhiều.
“Dẫn khách vào phòng em, hôm nay họ ngủ nhờ ở nhà mình.”
“Vâng ạ!”
Lúc này, người nhà họ Đỗ nghe tiếng động đều bước ra khỏi phòng. Khi Lý Giai Lan và Phương Huệ Văn dẫn bọn trẻ xuống xe, họ gật đầu chào người nhà họ Đỗ đang tò mò nhìn mình.
Ông lão trong nhà chính đang hút thuốc lào, nhìn Chu Vân Thù và mọi người đi vào phòng, nói: “Nhà này lai lịch không nhỏ, lát nữa gọi thằng hai vào đây tao hỏi.”
“Vâng ạ.”
Phòng của em gái họ Đỗ là gian đầu tiên phía tây, bước vào ba bước là cái giường đất, lúc này trên giường chỉ còn chiếu rơm dày.
Cô bé họ Đỗ hơi ngượng ngùng nói: “Vì ngày mai chúng cháu phải chạy nạn rồi, nên đồ đạc dọn gần hết, nếu mọi người không quen, cháu đi lấy thêm hai cái đệm cho.”
Chu Vân Thù cười nói: “Không cần đâu, nhưng có lẽ cần nhờ các cháu dọn thêm một phòng nữa.”
Nàng và Xuân Tước hiện tại thân phận là đàn ông, nếu ngủ chung với đàn bà con gái trong nhà thì chẳng lộ hết sao.
“Vâng, cháu đi hỏi anh cả cháu.”
Sau khi cô bé họ Đỗ rời đi, Chu Vân Thù nhìn ba cái đầu nhỏ đang lén lút núp ở cửa sổ, nàng lấy hai miếng bánh hoa quế từ chỗ bánh còn lại, bẻ làm đôi rồi vẫy tay gọi chúng.
Lúc cô bé họ Đỗ dẫn chị dâu dọn phòng xong quay lại, Phương Huệ Văn đã moi hết thông tin về nhà họ Đỗ từ ba cái đầu nhỏ.
Ông Đỗ có ba con trai và một con gái.
Đỗ Cả lấy vợ họ Dương, sinh hai trai một gái, con trai lớn mười ba tuổi, con trai thứ mười tuổi, con gái bảy tuổi; Đỗ Nhị đi áp tiêu, lấy vợ họ Vương, có hai con trai, một đứa mười một, một đứa sáu tuổi; Đỗ Tam còn đang đi học, lấy vợ họ Lý, chỉ có một con gái, năm nay bốn tuổi.
Nhà họ Đỗ là một gia đình khá giả trong làng, có ba mươi mẫu ruộng cạn, hai mươi mẫu ruộng nước, quanh năm không những đủ lương thực cho cả nhà mà còn bán được kha khá.
Dĩ nhiên, đó là những năm trước, hai năm nay mất mùa, năm mươi mẫu ruộng thu hoạch chưa bằng một phần ba những năm trước.
Ông Đỗ là người có tầm nhìn xa, hai năm nay lương thực chưa từng bán ra ngoài.
Thấy năm nay gần như mất trắng, hạn hán không biết còn kéo dài bao lâu, nên quyết định thà ở đây chờ chết, chi bằng dẫn cả nhà đi chạy nạn.
Chu Vân Thù và mọi người đến làng Đỗ Gia đúng vào lúc này.
“Phòng bên cạnh là phòng của bọn trẻ, cậu bé có thể ngủ ở đó.” Người nói là vợ của Đỗ Cả, họ Dương.
“Cảm ơn chị, không biết trong nhà ai là người làm chủ?”
Hiếm có chỗ tử tế để dừng chân, Chu Vân Thù muốn kiếm chút đồ nóng cho mọi người ăn.
“Là mẹ chồng tôi.”
“Vậy phiền chị, tôi muốn mua chút đồ ăn.”
Chu Vân Thù mua cũng không nhiều, nàng mua ba mươi cân bột mì trắng, hai mươi cân bột ngô, thêm mười lăm quả trứng, một nắm miến, hai cây bắp cải và một miếng thịt xông khói.
Những thứ này cộng với tiền ngủ nhờ một đêm, tổng cộng hết một lạng ba đồng bạc.
Bữa tối do Xuân Tước nấu, làm món canh trứng vụn, bánh ngô nướng, thêm bắp cải xào miến với thịt xông khói, và một bát canh gà nhà họ Đỗ mang sang chỉ có vài miếng thịt.
Lúc nấu ăn có một chuyện nhỏ, Xuân Tước thấy cái cối đá vướng chỗ nấu bèn tiện tay xách nó ra chỗ tường, làm cả nhà họ Đỗ giật mình.
Hành động tưởng như tùy tiện này là do Chu Vân Thù cố ý bảo Xuân Tước làm, nàng muốn cho nhà này biết, tuy đoàn người của họ đàn bà trẻ con nhiều, nhưng không phải không có khả năng tự vệ.
Canh gà nhà họ Đỗ mang sang, Chu Vân Thù và mọi người không động vào. Lúc ăn cơm, Phương Huệ Văn kể sơ qua tình hình nhà họ Đỗ cho mọi người nghe.
Nói ra thì việc làng Đỗ Gia quyết định đi chạy nạn có liên quan rất lớn đến nhà mà họ trọ.
Vì hạn hán liên miên, thực ra làng Đỗ Gia đã có ý định chạy nạn từ lâu, nhưng chạy nạn đâu có dễ, nếu không thực sự sống không nổi, chẳng ai muốn xa quê hương.
Còn bây giờ người làng Đỗ Gia chịu đi chạy nạn, là vì hai lý do.
Một là ngôi làng nhỏ cách họ không xa đã bị thổ phỉ cướp, làng Đỗ Gia vì là làng lớn nên thoát nạn, nhưng biết xung quanh có thổ phỉ, dù đông người cũng lòng người hoang mang.
Lý do thứ hai là lần này Đỗ Nhị đi áp tiêu về, tiện đường mang theo người cùng áp tiêu.
Người cùng áp tiêu với Đỗ Nhị cũng sống không nổi ở quê nhà, nên định dắt díu nhau chạy nạn về phía nam.
Còn tại sao không chạy về phía kinh thành, dĩ nhiên là vì họ từ kinh thành mà đến.
Dân chạy nạn đổ về kinh thành quá nhiều, chưa kịp đến gần đã bị đuổi về rồi.
Huống hồ kinh thành và vùng lân cận cũng đại hạn, không vào được kinh thành thì ở lại ngoài đó chẳng phải cũng chờ chết sao?
Thà như vậy chi bằng đi về phía nam, nghe nói phía nam mưa thuận gió hòa, lúa một năm còn cấy hai vụ, thế nào cũng không chết đói.
