Chương 64: Thung Lũng Tĩnh Lặng.
Đề An đang đứng trong phòng tắm. Khi nhắm mắt xả nước gội đầu, anh đột nhiên cảm thấy như có một khuôn mặt áp sát vào tấm kính bên ngoài.
Khuôn mặt ấy không có ngũ quan.
Chỉ có một lớp cười mờ ảo như có như không.
Đề An giật mình mở mắt, kéo vội cửa phòng tắm.
Hành lang bên ngoài nhà vệ sinh tối om om.
Một mảng tĩnh lặng.
Nhưng trong sự tĩnh lặng ấy, dường như có thứ gì đó đang ngồi chồm hổm ngay trước cửa phòng vệ sinh, rình rập chờ cơ hội.
Đề An nhanh chóng tắm xong, quấn khăn tắm bước ra ngoài.
Anh đứng trước cửa sổ sát đất, uống vài ngụm nước khoáng lạnh.
Cảm giác băng giá từ cổ họng lan thẳng lên đỉnh đầu.
Khiến mạch suy nghĩ của anh cũng theo luồng lạnh lẽo ấy mà trở nên rõ ràng hơn.
Đề An bắt đầu xem xét lại công việc của mình. Ban đầu, anh đã giả định rằng hiện trường vụ án có người thứ ba.
Và người thứ ba chính là hung thủ.
Người thứ ba có thực sự tồn tại không?
Hắn ta thực sự là hung thủ sao?
Người thứ ba cứ như một bóng ma, không thấy được, không chạm được, không có động cơ, không có manh mối, thậm chí chẳng có cả cái bóng...
Cứ như cảm giác lúc nãy anh vừa trải qua khi đang tắm vậy.
Tiếng chuông điện thoại vốn dĩ rất bình thường, nhưng giữa đêm khuya thanh vắng bỗng nhiên vang lên, khiến người ta không khỏi giật thót.
Đề An liếc nhìn màn hình, là Âu Dương Đài gọi.
Đề An vội vàng nhấn nút nghe. Chắc chắn là việc truy tìm chiếc taxi đã có manh mối rồi.
Quả nhiên, Âu Dương Đài hưng phấn nói: “Anh à, kết quả phân tích lộ trình của chiếc taxi đã có rồi.
Mấy hôm nay, các đồng chí bên giao thông thay phiên nhau trực liên tục, rà soát tất cả các ngã tư có thể đi qua.
Cuối cùng phát hiện ra chiếc taxi chở Tôn My đã biến mất ở khu vực thôn Lý.
Thôn Lý có một cái hồ lớn.
Em sơ bộ tìm hiểu thì cái hồ đó sâu tận sáu mét.
Diện tích rộng hơn năm trăm mét vuông.
Trong hồ có rất nhiều lá cây mục và bùn đất.
Nếu có chỗ nào giấu được cả một chiếc taxi, thì chỉ có thể là cái hồ đó thôi.”
Đề An nói: “Âu Dương, sáng mai cậu tìm mấy thợ lặn giỏi xuống xem trước một lượt.
Nếu phát hiện tung tích chiếc taxi, thì lập tức tìm người trục vớt.
Trong chiếc taxi đó chắc chắn sẽ có những manh mối quan trọng.”
Âu Dương Đài ngáp một cái, “Vâng anh. Ngày mai em sẽ đi làm ngay.
Anh cũng nghỉ ngơi sớm đi. Khuya rồi.”
Đề An nói: “Bận cả ngày rồi, cậu nghỉ trước đi.
Nếu bây giờ cậu vẫn còn ở bên giao thông, thì gửi cho tôi đoạn video trích xuất lộ trình của chiếc taxi đi.”
Âu Dương Đài đáp: “Vâng anh, em chưa về, vẫn đang ở trung tâm giám sát. Em sẽ gửi ngay cho anh.”
Một lát sau, video đã được nén lại và gửi đến.
Đề An lau khô tóc, vắt chiếc khăn lên cổ.
Vòng tròn tải xuống ở giữa video đang dần dần được lấp đầy.
Đề An di chuyển chuột.
Bởi vì ngày mười bốn tháng bảy âm lịch, trời mưa khá to từ sáng đến tối.
Phía trước camera giám sát luôn bị một lớp sương mù bao phủ.
Khi chiếc taxi chở Tôn My xuất hiện trong khung hình giám sát, mắt Đề An liền dán chặt vào nó.
Từ camera chỉ có thể thấy một tài xế đội mũ lưỡi trai và đeo khẩu trang trên ghế lái, hoàn toàn không nhìn rõ mặt.
Phía sau có hành khách hay không, có bao nhiêu hành khách, dưới sự can thiệp của màn đêm và màn mưa mù mịt, căn bản không thể nào biết được.
Điểm quái dị của những đoạn video này là chiếc taxi ấy hoàn toàn không hề có vẻ vội vã, hốt hoảng của một kẻ giết người phi tang xác.
Mà ngược lại, nó toát ra một sự thong dong đến kỳ lạ.
Chiếc taxi ấy, ở mọi ngã tư có camera, đều bật đèn xi-nhan, đều dừng lại trước mọi đèn đỏ.
Thậm chí còn nhường đường cho từng người đi bộ băng qua đường giữa đêm khuya.
Trong bối cảnh tiếng mưa rơi, nó cứ như một chiếc xe tang lặng lẽ tiến về nghĩa địa.
Một giọng nói bỗng vang lên trong lòng Đề An, “Chiếc xe này không phải đi giết người phi tang xác, mà là đi để chết một cách bình thản.”
Đề An giật mình vì chính giọng nói trong lòng mình.
Đó là âm thanh từ trong tiềm thức của anh.
Nếu giọng nói này là thật, thì chỉ có một chân lý duy nhất.
Đó là, hiện trường vụ án căn bản không hề có người thứ ba.
Khi Đề An đi ngủ đã là năm giờ sáng. Anh ngủ chập chờn, trong mơ toàn là Cửu Tinh Cốc phủ đầy sương mù.
Đúng bảy giờ, đồng hồ báo thức reo vang.
Đề An trở dậy, tắt chuông báo.
Đồng thời, anh thấy tin nhắn Diệp Hành Chi gửi lúc nửa đêm.
“Anh ơi, khuya quá rồi, em không dám làm phiền anh.
Em đã hỏi cung người kiểm lâm tuần tra vào rạng sáng ngày rằm tháng bảy. Lúc đầu anh ta không chịu nói.
Nhưng về mặt thời gian thì có rất nhiều sơ hở.
Em thấy khả nghi nên đã đưa anh ta về đồn.
Thẩm vấn suốt đêm.
Anh ta rất nhát gan, vừa vào phòng thẩm vấn ở đồn là khai ngay.
Rạng sáng ngày rằm tháng bảy hôm đó, mãi đến lúc trời sáng anh ta mới lên Cửu Tinh Cốc, vì vợ anh ta bảo ngày ma quỷ thì đừng ra ngoài, nhất là những nơi âm khí nặng như Cửu Tinh Cốc.
Lỡ có thứ không sạch sẽ bám theo về nhà thì phiền phức lắm.
Tuy anh ta không mê tín, nhưng cũng đành chịu thua cái uy của vợ.
Ca trực của anh ta giao ca với đồng nghiệp là mười giờ tối ngày mười bốn tháng bảy.
Mười giờ tối hôm đó, anh ta giả vờ điểm danh trong nhóm công tác, nhưng thực tế hơn năm giờ sáng hôm sau mới lên núi.
Như vậy, có thể giải thích được tại sao không có người kiểm lâm nào nhìn thấy hay nghe thấy tiếng động của vụ án mạng.
Đây là giải thích về mặt thời gian.
Còn về mặt không gian, sau khi người kiểm lâm trực ngày rằm tháng bảy giao ca, người kiểm lâm kia đã không đến khu vực này để tuần tra kỹ lưỡng.
Vì vậy đã không phát hiện ra hai thi thể.
Mãi cho đến khi người kiểm lâm họ Lưu lên ca trực thì mới phát hiện ra xác của Tôn My và Diêu Bân.
Em đã hỏi từng người kiểm lâm ở Cửu Tinh Cốc, thực ra công việc của họ không thể bao quát hết mọi ngóc ngách.
Theo lời họ nói thì Cửu Tinh Cốc rất rộng.
Họ chỉ thường chọn một vài chỗ dễ xảy ra sự cố để kiểm tra mà thôi.
Vì vậy, hung thủ là người rất am hiểu địa hình Cửu Tinh Cốc và công việc của kiểm lâm, có thể vòng qua được camera ở lối vào núi.
Tìm được những nơi kiểm lâm ít khi tuần tra.
Đưa Diêu Bân và Tôn My vào sâu trong núi để sát hại.
Em đã kiểm tra camera ở lối vào núi mấy ngày hôm đó, không phát hiện người khả nghi nào.”
Đề An không trả lời, anh không muốn làm phiền Diệp Hành Chi.
Mấy ngày nay, người của đội hình sự gần như làm việc không nghỉ.
Anh muốn để họ ngủ thêm một chút.
Anh canh đúng giờ, bước vào quán bar ở cổng khu chung cư của Vu Đông.
Quán bar mở xuyên đêm, đến bảy tám giờ sáng mới đóng cửa.
Sáu giờ hơn chính là lúc khách đã tản hết, nhân viên đang dọn dẹp.
Đề An đưa thẻ ngành ra, ông chủ quán bar rất phối hợp lấy ngay băng ghi hình từ tối ngày mười bốn tháng bảy đến sáng ngày rằm tháng bảy.
Ông chủ giải thích với Đề An, người ta thường kiêng kỵ mấy ngày ma quỷ ở ngoài qua đêm, nên mấy hôm đó quán rất ít khách.
Ngoại trừ một vài kẻ cô độc.
Đề An chỉ vào Vu Đông đang ngồi ở góc quán, “Anh có biết anh ta không?”
Ông chủ quán bar nhìn kỹ một lúc, “Biết ạ. Khách quen mà.
Một tuần cũng phải đến vài lần.
Lần nào cũng ngồi ở góc quán uống rượu giải sầu.”
Đề An xem kỹ đoạn video tối hôm đó, thấy Vu Đông uống rượu từ tám giờ tối cho đến tận bốn giờ sáng.
Bốn giờ sáng, hắn vào nhà vệ sinh của quán bar, sau đó quay về căn hộ trong khu chung cư.
Nếu suy luận của Lâm tỷ về thời gian tử vong của Tôn My và Diêu Bân là chính xác, thì Vu Đông không có thời gian gây án.
Đề An sau đó đến thôn Lý.
Kể từ khi chiếc taxi đầy bùn đất và lá cây mục được trục vớt lên khỏi hồ, mảnh ghép trong lòng anh dần trở nên hoàn chỉnh.
Anh cần bằng chứng.
Nhưng chiếc taxi đã ngâm nước hồ quá lâu, manh mối còn sót lại chẳng đáng là bao.
