Chương 74: Ngọc Ngậm Hàm.
Đề An quyết định thử trước bằng một tấm hình.
Anh tiện tay rút một tấm từ trong túi ra.
Ai ngờ lại đúng là tấm hình mặt dây chuyền ngọc.
Anh nhìn quanh, không thấy ai đi về hướng này.
Anh đặt tấm hình lên lòng bàn tay, đưa cho chủ quầy xem.
“Bác ơi, ở đây bác có cái này không?”
Chủ quầy nheo mắt, ánh nhìn dừng lại trên mặt dây chuyền ngọc.
Ông chậm rãi hỏi: “Anh cần cái này làm gì?”
Đề An nói dối: “Cháu mua hộ ông chủ cháu ạ.
Ông chủ cháu thích sưu tầm đồ cổ.”
Chủ quầy lấy từ bên cạnh ra một cái ghế nhỏ, thong thả ngồi xuống: “Này chú em, đây không phải mặt dây chuyền ngọc đâu.
Đây là ngọc ngậm hàm, là ngọc dùng trong tang lễ, loại ngọc này được ngậm trong miệng người chết để đè lưỡi.
Trong nghề của chúng tôi, có ba loại ngọc cổ không được phép mua bán, vì không may mắn, thậm chí có thể mang lại vận rủi.
Một là ngọc tắc. Là ngọc dùng để nhét chín lỗ trên cơ thể người chết.
Hai là ngọc y, là quần áo làm bằng ngọc mặc cho người chết.
Ba là ngọc ngậm hàm. Chính là thứ trong ảnh của anh đây.
Ba loại ngọc này phong ấn nguyên hồn của người đã khuất, giúp họ an tâm đầu thai.
Nếu sưu tầm những thứ có chứa nguyên hồn của người chết, sẽ bị phản phệ.
Nói một cách khoa học thì ba loại ngọc cổ này sau khi người chết được ngâm trong nước thi thể, bên trong có rất nhiều vi khuẩn và virus.
Loại ngọc này không trong suốt, thường ngả vàng hoặc ngả đỏ, đó là màu sắc hình thành do ngọc và nước thi thể hòa quyện vào nhau.
Chú em này. Nói thật đi.
Không phải chú đi tìm hàng cho ông chủ đâu, đúng không?
Để tôi đoán nhé, chú là cảnh sát.”
Đề An giật mình, không ngờ chủ quầy lại nhanh chóng nhận ra thân phận của mình như vậy.
Đề An nói: “Xin lỗi bác, đúng là cháu là cảnh sát thật.
Vì bác đã nhìn ra rồi,
cháu cũng không giấu nữa.”
Đề An lấy giấy tờ ra cho chủ quầy xem.
Chủ quầy nói: “Ở đây chúng tôi cũng từng có mấy anh cảnh sát mặc thường phục đến. Hình như để truy tìm một đường dây buôn bán cổ vật.
Vừa lúc nãy chú mở miệng, tôi đã biết ngay.
Nếu ông chủ của chú thực sự là người yêu thích sưu tầm đồ cổ, sao lại có thể không biết thứ âm hàn cực kỳ này không thể sưu tầm được chứ?”
Đề An hỏi: “Vậy phiền bác kể thêm cho cháu nghe về mấy cái ngóc ngách trong này được không ạ?”
Chủ quầy cũng đưa cho Đề An một cái ghế nhỏ.
“Chú lại gần đây, tôi nói tỉ mỉ cho.
Chú nhìn này, đây là ngọc ngậm hàm bằng ngọc trắng chạm rỗng hoa văn Khuê, phía trên chạm hình một con khỉ.”
Đề An lại gần nhìn: “Đây là con khỉ ạ?
Trông không giống lắm.”
Chủ quầy nói: “Chủ yếu là lấy chữ 'khỉ' đồng âm với chữ 'hầu' trong 'phong hầu', mang ý nghĩa người đã khuất phù hộ cho con cháu đời sau được phong tước hầu.
Thêm vào đó, chất liệu của ngọc ngậm hàm này thuộc loại đắt tiền, nên chủ nhân của nó hẳn phải là vương công quý tộc có địa vị thân phận cao.
Và là nam giới.”
Đề An hỏi: “Khoảng triều đại nào vậy bác?”
Chủ quầy khẳng định: “Chất ngọc là của thời nhà Thanh, hoa văn là cuối thời nhà Thanh.”
Đề An liền lấy ra những tấm hình khác.
Chủ quầy kể như đếm của nhà mình: “Đây là hộp trang sức sơn mài khảm vàng.
Đây là chén rồng bằng ngọc phỉ thúy.
Đây là túi thơm thêu hoa bằng gấm vóc kim tuyến.
Ô, cái này quý đây.
Đây là quạt xương ngà vỏ trai.
...”
Chủ quầy nói một hơi, rồi tổng kết: “Trong này có khá nhiều món tốt. Cơ bản đều là đồ thời nhà Thanh.
Tôi từng thấy trên thị trường những món tương tự cùng thời kỳ.
Nhưng chất lượng, tay nghề, chất liệu đều không bằng mấy món này.
Tôi suy đoán, tuy những thứ này không phải từ trong cung ra, nhưng cơ bản đều xuất thân từ phủ Thân vương, phủ Bối lặc, thân phận thấp nhất cũng là mệnh quan triều đình.”
Lúc này Âu Dương trở về, anh ta ngồi xổm xuống cạnh Đề An.
Bí mật kéo khóa áo khoác ra, cho Đề An liếc qua một cái, rồi lại nhanh chóng kéo khóa lên.
Đề An hỏi: “Cái gì thế, nhanh vậy, em làm gì đấy?”
Âu Dương Đài nhìn chủ quầy, thì thầm vào tai Đề An: “Anh ơi, em kiếm được món hời rồi.
Chắc là em sắp giàu to rồi.”
Đề An cười: “Em lấy ra đi, để bác ấy xem cho.”
Âu Dương cẩn thận kéo khóa, tháo từ trên cổ xuống một miếng ngọc bội.
Anh ta hai tay dâng cho chủ quầy.
Chủ quầy vuốt râu, cười lớn: “Này chú cảnh sát trẻ, chắc chú gặp phải đồ tiếp thị giả rồi.
Mất bao nhiêu tiền?”
Âu Dương nói: “Tám trăm tệ ạ.
Tiếp thị giả ư? Không thể nào?”
Chủ quầy nói: “Miếng ngọc này chỉ đáng giá ba bốn chục thôi. Người làm giả lấy mấy mảnh thủy tinh vụn dính lại với nhau, ném vào hố xí, bốn năm năm sau vớt lên, có cảm giác cũ kỹ tự nhiên, đánh bóng lên rồi đem ra chợ bán như ngọc cổ.”
“Cái gì?” Âu Dương như ngộp thở, lập tức quay đầu tìm cái quầy nhỏ mà mình vừa mua đồ.
Chủ quầy và mấy người gọi là khách hàng kia đã biến mất từ lúc nào.
Âu Dương cầm miếng ngọc lên xem, rồi quay đi nôn khan.
Âu Dương từ trong túi lại lấy ra một chuỗi hạt: “Anh đừng mắng em nha.
Em biết sai rồi.
Cái này chắc cũng bị dụ mua rồi.”
Chủ quầy xem qua: “Chuỗi hạt bồ đề à?
Hạt mới đem chiên qua dầu sôi, rồi dùng máy xoay ngày đêm, là ra được màu sắc như thế này đấy.”
Âu Dương van nài chủ quầy: “Bác ơi, bác đừng nói nữa.
Nói nữa cháu xấu hổ chết mất.
Đáng ra cháu còn là cảnh sát, vậy mà bị lừa sạch sành sanh.”
Chủ quầy nói: “Đến đây, không có vài năm thì không rèn được mắt nhìn đâu.”
Âu Dương đưa miếng ngọc bội và chuỗi hạt cho chủ quầy: “Biếu bác đấy ạ. Lỡ có ai thích đúng loại màu này, bác cứ bán ba năm chục thôi.”
Chủ quầy nói: “Ở đây tôi toàn đồ thật, tôi không làm mấy thứ giả đâu. Tổ tiên nhà tôi đã làm nghề này rồi.
Tôi không thể để tổ tiên mắng được.”
Âu Dương cầm miếng ngọc bội và chuỗi hạt định ném xuống đất, thì bị Đề An cười ngăn lại: “Không được xả rác bừa bãi.
Đồ ngâm hố xí của em mà ném ra đường thì chỉ có dụ ruồi thôi.”
Các chủ quầy khác đã dọn hàng. Đề An cũng cảm ơn chủ quầy, rồi cùng Âu Dương Đài rời khỏi chợ đồ cổ.
Đề An đưa Âu Dương Đài về nhà, rồi anh gọi điện cho Diệp Hành Chi.
Diệp Hành Chi đi truy tìm tung tích của Phú Thụy Dương, đã được tám chín tiếng đồng hồ.
Đề An bấm máy: “Thế nào rồi, đồng chí Diệp, tìm được tung tích của Phú Thụy Dương chưa?”
Đầu dây bên kia, giọng Diệp Hành Chi hơi ồn ào: “Báo cáo đội trưởng, chúng em vừa bắt giữ được Phú Thụy Dương.
Đầu tiên chúng em điều tra camera, Phú Thụy Dương không đi thẳng đến Giang Châu.
Anh ta không đi đường cao tốc, mà đi đường tỉnh.
Anh ta lái xe về một chuyến làng Ngõa Nha Nhai.
Làng Ngõa Nha Nhai là quê của Phú Thụy Dương, cũng là quê của Phú Khắc Minh.
Làng Ngõa Nha Nhai không còn mấy người nữa, đều đã chuyển lên thành phố hết rồi.
Người của chúng em đi theo từ xa, sợ đánh cỏ động rắn.
Phú Thụy Dương lái xe đến trước một khu rừng, lén lút chui vào một bụi cỏ rồi biến mất.
Chúng em không dám lại gần. Chỉ dám đợi ở xa.
Đợi anh ta ra ngoài, chúng em thấy trên tay anh ta cầm một cái bao tải nhựa, phồng lên.
Phú Thụy Dương bỏ đồ vào cốp xe, nhìn trước nhìn sau rồi đi mất.
Sau khi anh ta rời đi, chúng em lần theo chỗ anh ta biến mất để tìm manh mối.
Trong rừng cây cối um tùm, đều là những cây rất già, che khuất cả bầu trời, mỗi cây trông rất giống nhau.
Không phát hiện dấu vết đào bới, không phát hiện chỗ nào khả nghi có thể giấu đồ.
Người của chúng em chia một phần tiếp tục tìm kiếm, một phần thì theo xe của Phú Thụy Dương.”
