Chương 4: Tìm chốn nghỉ chân nơi thôn dã.
Cứ thế men theo dòng suối đi thẳng, Lam Di không dám dừng lại thêm nữa. Đứa bé trong lòng tỉnh dậy lại đói, cô đành cho nó uống thêm chút nước suối cho qua cơn đói.
“Bé con, không đói nữa đâu nha, chúng ta sắp tìm được chỗ rồi, bé ngoan nào.” Hái vài bông cúc dại đang nở rộ, Lam Di vừa dỗ dành bé vừa bước tiếp. Thấy mặt trời đã ngả về tây, không khí dần se lạnh, lòng cô cũng càng thêm nôn nao.
Đi thêm một đoạn nữa, cuối cùng giữa đám cỏ dại và đá lởm chởm dưới chân cũng xuất hiện dấu vết con người: “Đây là cành cây bị chặt làm củi đây. Hừm, chắc là không xa làng xóm nữa rồi.”
Lam Di nhìn những cành thông bị chặt chất đống cách dòng suối không xa, chỗ này chắc cách khu dân cư không quá xa.
“Bé con, chúng ta sắp tới rồi. Bé giỏi quá, không khóc không nháo để mẹ bế, à, để nương bế. Bé ơi, ta là nương của con đó, phải nhớ nha.” Lam Di vui vẻ khen ngợi đứa bé tên Tiểu Di Hiên trong lòng, rồi hôn thật mạnh lên khuôn mặt nhỏ nhắn của nó.
Quả nhiên, dưới chân dần hiện ra con đường mòn do người đi lại, hai bên đường cũng có nhiều dấu vết hoạt động của con người hơn. Những khoảng đất bằng phẳng đã được khai phá thành ruộng vườn, một mảng xanh mướt thẳng tắp.
Cuối cùng, trước khi mặt trời lặn hẳn, Lam Di nghe thấy vài tiếng chó sủa vọng từ bên kia núi, tựa như tiếng nhạc trời. Cô rảo bước nhanh hơn, vòng qua chân núi, và trước mắt hiện ra một ngôi làng nhỏ. Khói bếp lam chiều bay lên nghi ngút, in bóng lên nền trời ráng đỏ như một bức tranh sơn dầu đậm đặc: núi xanh, nước biếc, nhà tranh, đẹp đến nỗi muốn rơi nước mắt.
Lam Di ngồi thở dốc bên vệ đường, thả chiếc váy đang nhét bên hông xuống, soi nước chỉnh trang y phục, lại thay cho bé một bộ quần áo sạch sẽ để che mấy vết máu trên người, rồi mới đi về phía làng.
Ven làng có mấy đứa trẻ đang nô đùa. Bọn trẻ đều mặc áo vải thô ngắn tay, tuy có vài chỗ vá nhưng cũng tạm gọi là chỉnh tề. Nhìn tụi nhỏ da dẻ hồng hào, tinh thần cũng tốt.
“Xem ra tình hình làng này cũng khá, lũ trẻ mới có cơm ăn áo mặc, còn có sức mà chơi đùa thế này. Bé con, con sắp có cơm ăn rồi.” Lam Di đưa ra kết luận. Giờ cô không còn sức để lo có người đuổi theo nữa, chuyện bé con có cái ăn mới là quan trọng nhất. Huống hồ cô đã đi xa như vậy, hướng đi cũng là chọn đại, chỉ cần không phải vận đen đeo bám thì chắc sẽ không gặp bọn xấu nhanh thế đâu.
Lũ trẻ thấy Lam Di bế con đi tới thì ngừng đùa giỡn, hơi e dè đứng nhìn hai mẹ con Lam Di, mắt đầy tò mò. Trong mắt chúng, cô không thấy cái vẻ cảnh giác với người lạ như trẻ con thời hiện đại, trong lòng cũng thấy dễ chịu hơn.
“Ừm, các... các cháu, à không, cái đó... xin hỏi trong làng có quán... có tửu gia không ạ?” Lam Di ấp úng nói, không biết cách diễn đạt và giọng nói của mình có bị cho là kỳ quái không. Y Nhu nói cô nghe hiểu, vậy thì lời cô nói chắc mấy người này cũng nghe hiểu.
“Tửu gia? Là cái gì?” Một thằng bé chừng sáu bảy tuổi, tóc để chỏm, lên tiếng hỏi với giọng địa phương. Lam Di nhận ra mình cũng nghe hiểu được, không khỏi thở phào nhẹ nhõm.
“Là chỗ có thể ăn cơm, ngủ nghỉ ấy mà.” Lam Di bế bé ngồi xổm xuống, ngang tầm mắt với thằng bé vừa hỏi, cố tỏ ra dịu dàng và vô hại.
Mấy đứa trẻ trao đổi ánh mắt với nhau, có vẻ ngơ ngác nhìn Lam Di, không biết cô muốn làm gì.
“Nhị Ngưu, về ăn cơm! Cái thằng nhóc nghịch ngợm này, cứ phải để mẹ gọi mới chịu về hả!” Kèm theo giọng nói sang sảng, cánh cửa liếp bằng gỗ bên bức tường thấp bên phải Lam Di mở ra, một người phụ nữ bước ra.
Người phụ nữ này trông chừng ba mươi tuổi, người hơi mập, nước da hơi ngăm, mắt sáng, tóc búi cao cài một chiếc trâm gỗ. Mặc một chiếc áo dài bằng vải thô màu xanh, bên dưới là váy dài màu đỏ sẫm, chỉ lộ ra đôi giày gai. Nhìn sơ qua, đôi chân cô ta có vẻ không bị bó. Lam Di thở phào, chuyện bó chân là thứ cô khó chấp nhận nhất, xem ra chân trời của Xuân Đào cũng không phải ngoại lệ.
“Đại tẩu, tiểu phụ nhân mang theo đứa nhỏ về quê đi ngang qua đây, có thể vào nhà tẩu xin bát nước uống được không ạ?” Người phụ nữ này trông có vẻ chính trực lương thiện, Lam Di liền liều mặt dày hỏi.
Người đàn bà kéo thằng bé Nhị Ngưu trong đám trẻ ra, phủi mạnh đất trên quần áo thằng bé, rồi ngước lên nhìn Lam Di. Thấy quần áo cô sạch sẽ nhưng giày lấm đầy bùn, liền biết cô đi bộ tới, bèn gật đầu đồng ý: “Vào đi. Các cháu về nhà ăn cơm hết đi, kẻo bị mắng.”
Mấy đứa trẻ nhìn Lam Di một lúc rồi chạy tản đi mỗi đứa một nơi.
Thái độ của đại tẩu tuy không coi là thân thiện lắm, nhưng dù sao cũng không bị từ chối. Lam Di thở phào, vội vàng cảm ơn, rồi theo chân hai mẹ con bước vào sân nhà nông.
Cái sân này khá vuông vức, ba gian nhà chính bằng đất, hai bên đông tây có hai căn nhà nhỏ dựng bằng khung gỗ. Trong sân thả rông vài con gà. Trước hiên nhà, một người đàn ông chừng ba mươi tuổi đang sửa nông cụ, đầu đội khăn, mặc áo ngắn, chân đi dép cỏ. Thấy vợ mình dẫn người vào, hắn đứng dậy, xoa tay, hơi có vẻ ngượng ngùng.
“Đây là chồng tôi. Ông nhà tôi ạ, cô bé này tới xin bát nước.” Đại tẩu nói xong, lại quát thằng Nhị Ngưu: “Mày đi rửa ráy đi.”
“Chào đại ca, làm phiền quá.” Lam Di cười nhẹ chào hỏi, cố gắng cười không hở răng, kẻo người ta cho là mình lẳng lơ. Dù sao bây giờ không giống thời đại của cô, mỗi lời nói hành động đều phải cẩn thận.
Người đàn ông không nói gì, chỉ gật đầu rồi quay người bước vào nhà. Lam Di bỗng không biết nên nói gì nữa.
Đúng lúc này, Di Hiên bắt đầu khóc thút thít. Lam Di xót con, biết nó đói, đành bắt đầu vỗ nhẹ vào lưng nó.
Di Hiên có ngoại hình giống Y Nhu, như những đồng tử, đồng nữ bên cạnh Phật Bà Quan Âm trong tranh Tết. Đại tẩu thấy cũng thích, lại thấy Lam Di động tác thành thạo, liền hỏi thẳng: “Sao một mình cô bế con thế này, chồng cô đâu?”
“Chồng tiểu phụ nhân đã bệnh mất rồi. Tôi thuê xe ngựa đưa con về quê. Sáng nay trên đường xe hỏng, tên xa phu bắt nạt cô nhi quả phụ chúng tôi còn trẻ, không chịu đưa nữa, tiểu phụ nhân đành phải bế con đi bộ. Vì không quen đường núi nên ngã một cái, lăn xuống chân núi, tình cờ mới tới được đây, gặp được đại tẩu.” Lam Di nói nhỏ nhẹ, cố tỏ ra đau thương thảm thiết, để xóa đi sự cảnh giác của người đàn bà và gợi lên lòng thương của bà ta. “Đại tẩu nhân hậu mới cho tôi vào uống nước, không biết tẩu xưng hô thế nào?”
Quả nhiên, người đàn bà nghe cô mất chồng lại gặp chuyện như vậy, trong lòng sinh ra chút đồng cảm: “Cô cứ gọi tôi là Ngưu tẩu là được. Chỗ chúng tôi đi đâu cũng xa, cô có thể đi bộ vào đây cũng không dễ dàng gì. Chắc cả ngày chưa ăn gì rồi phải không? Ăn tạm cùng chúng tôi vậy. Trong làng này chẳng có tửu gia nào cho cô ăn ngon đâu.”
“Sao dám thế ạ. Cảm ơn Ngưu tẩu, có cái ăn là tốt rồi. Thú thật với tẩu, đứa nhỏ này buổi trưa có ăn chút lương khô, nửa ngày nay chưa có gì vào bụng.” Lam Di đáp, rồi theo người đàn bà bước vào nhà chính. Quả nhiên thấy cơm canh đã bày trên bàn gỗ, người nông dân kia đang bày bát đũa. Ngưu tẩu gọi to: “Ông nhà, tối nay tôi giữ cô Lam lại ăn cơm, ông lấy thêm bộ bát đũa nữa.”
“Lấy rồi đây.” Người đàn ông đáp, giọng nghe rất thật thà, Lam Di thấy dễ nghe vô cùng.
“Làm phiền Ngưu đại ca quá.” Lam Di đứng ở cửa, cúi đầu nói, không ngước lên nhìn đồ đạc trong nhà. Ngưu tẩu mời cô ngồi vào bàn ăn. Thằng bé tên Nhị Ngưu đã ngồi sẵn, đang húp xoèn xoẹt, xem ra cũng đói rồi.
Trên bày ba cái bánh màn thô, một đĩa rau xanh và bốn bát cháo loãng. Bát cháo bằng sành thô, miệng bát sứt mẻ, nhưng bát khá to. Một bát cháo này đủ để cô cho Di Hiên ăn no, rồi mình cũng ăn được nửa bụng. Bánh màn thô thì cô không dám nghĩ tới, dù sao cô cũng là người đột nhiên tới ăn nhờ, người ta chịu chia cho cô một bát cháo đã là khách khí lắm rồi.
“Cô uống chút cháo rồi hãy cho con bú.” Ngưu tẩu mời Lam Di ăn nhanh, thái độ cũng thân thiện hơn vài phần.
Cho con bú... Lam Di làm gì có sữa mà cho đứa bé bú. “Ngưu tẩu, đứa nhỏ này đã cai sữa rồi ạ. Cho nó uống chút cháo loãng là được.”
