Chương 26: Tiếng thơm sau khi chết
Hầu như ai gặp Văn Thiển cũng nghĩ cô không thể ở lại nông thôn lâu. Trong mắt họ, nông thôn là nơi dưỡng già, là chốn lá rụng về cội.
Một người trẻ như cô, dù có kết hôn sinh con cũng sẽ sống ở thị trấn hay thành phố, chứ không về một ngôi làng heo hút, nhà độc lập thế này.
Ở đây quá yên tĩnh, quá buồn chán, cũng chẳng có cách kiếm tiền, chỉ có công việc đồng áng ngày qua ngày và những câu chuyện phiếm lặp đi lặp lại.
Văn Thiển nói với Trần Lâm rằng cô chưa biết khi nào đi.
Trần Lâm tưởng cô sẽ ở quê đến cuối năm, liền nói: “Ở nhà chơi cũng chẳng sao, coi như nghỉ phép dài, qua Tết kiếm việc cũng chưa muộn.”
Nhưng anh nghĩ người trẻ chẳng thể ở lâu thế, chắc chắn sẽ ra thị trấn hay thành phố chơi vài bữa, vì ở làng buồn chết đi được.
Trần Lâm trước đây đi làm ăn xa, nhưng vì người già trong nhà cần thường xuyên về giúp việc, con cái lại học ở thị trấn, nên anh đành ở quê nuôi dê nuôi bò.
Tuy nhiên, chỗ anh chăn thả không phải ở Đại Trần Oa, mà ở một thung lũng xa hơn, nên sáng nay trên xe chở có mấy người Văn Thiển không quen.
Trong lúc trò chuyện, Trần Lâm còn cho cô xem đàn dê bò của mình – trên điện thoại là hình ảnh từ camera trong chuồng.
Nhờ đó, dù ở đâu anh cũng có thể xem đàn gia súc. Văn Thiển liền hỏi: “Trong làng có mạng chưa?”
Trần Lâm lắc đầu: “Trừ Liễu Hà Thôn đông người kéo mạng dễ, mấy thung lũng khác muốn kéo vào rất tốn kém, phải năm hộ cùng đăng ký mới được.”
Thế thì khó rồi, một thung lũng chưa tới năm hộ, kéo dây quá phí.
Trần Lâm dùng mạng di động của điện thoại mình.
Gói cước của Văn Thiển không đắt, vượt quá lưu lượng nhất định cũng không mất thêm tiền, chỉ bị giảm tốc độ, chẳng ảnh hưởng gì đến cô.
Buồng lái có hai ghế, ghế phụ là một bà thím cùng làng với Trần Lâm. Thấy Văn Thiển, bà hỏi cô đã có nơi nào chưa.
Văn Thiển lắc đầu. Sau đó bà bắt đầu hỏi cô yêu cầu gì, Văn Thiển nói chưa vội.
Rồi bà thím nhìn cô với ánh mắt “tao hiểu, mày ngượng đấy”.
Trần Lâm đánh trống lảng hỏi bà thím mua cao dán chưa, bà chợt nhớ vội đi mua.
“Người trẻ không muốn ở làng, một là vì chán, hai là vì các cụ hỏi dài hỏi ngắn.” Trần Lâm cười nói.
Thím Trần cũng nói: “Phải đấy, nhà tôi hỏi nhiều là nó quay lưng cho xem mặt, hỏi lắm càng mất lòng.”
Trần Lâm: “Giờ người trẻ kết hôn muộn, trước kia mười bảy mười tám đã xem mặt, hai lăm đã bảo già. Giờ hai lăm mới bắt đầu, ba mươi cưới cũng bình thường.”
Thím Trần: “Thời chúng tôi mười tám đã cưới, cưới xin mời người hát bóng rối. Thời đại khác rồi.”
Hai người rất rõ rằng mỗi thế hệ một khác, nên nói năng hành xử không độc đoán, cũng rất thích nghi với thời đại.
Văn Thiển ngồi bên cạnh tiếp tục dọn dẹp điện thoại cho thím Trần, thỉnh thoảng chen vào vài câu. Chủ đề từ tuổi kết hôn chuyển sang chuyện dạy dỗ trẻ con bây giờ.
Thím Trần có con trai đã cưới nhưng chưa có con, bà tìm hiểu trước những khó khăn nuôi dạy trẻ bây giờ, sợ sau này không theo kịp thời đại, bị con cháu ghét.
Đến giờ, Trần Lâm nổ máy.
Vẫn những người đó, nhưng ai nấy đều mua kha khá đồ. Với họ, lên chợ có khi một tuần một hai lần, thậm chí nửa tháng mới ra ngoài một lần, nên phải mua đủ.
Hơn chín giờ một chút, Văn Thiển đến sân đập lúa, cùng thím Trần đi bộ về nhà. Thím Trần kể cho cô nghe quanh đây còn có những ai.
Ổ Tròn chỉ có mình Văn Thiển. Tiểu Trần Oa có hai vợ chồng thím, và một người đi sớm về muộn, dạo này lên thị trấn ở nhà con trai chưa về.
Đại Trần Oa vốn tám chín hộ, giờ chỉ còn hai cặp vợ chồng, một bà thím của Trần Lâm, và Trần Lâm.
Trong làng còn một nhà, chỉ có một ông lão, bị con trai đưa vào viện dưỡng lão ở thành phố.
Người con trai vừa làm vừa chăm bố, nhưng ông cụ không được tỉnh táo lắm, nên đành gửi viện.
Văn Thiển biết được vài chuyện phiếm từ thím Trần. Bà kể ông lão này trước đây hay gây sự với con dâu.
Con dâu ở nhà cán miếng mì, ông cũng lải nhải, bảo dài quá rộng quá dày quá, nói chung là làm gì cũng bới lông tìm vết, còn ông thì chắp tay sau đít chỉ nói không làm.
Con trai ông cũng nghĩ bố già nuôi mình khổ, nên chẳng ngăn cản gì, cuối cùng làm con dâu bỏ đi.
Đã chẳng ưng mình, thì con mình sinh ra cũng chẳng thích, thế là đàn bà dẫn con đi luôn.
Đến khi già, ông lão bị trúng gió một lần, con trai mới cuống lên, đi tìm vợ. Vợ đi làm kiếm tiền nuôi con thoải mái, chẳng muốn quay về.
“Người già không tu đức, năm mươi tuổi còn sức vác cỏ, sáu mươi còn thả bò cho lợn, lúc nào cũng bảo chẳng nhờ ai! Bảy mươi tuổi thân tàn ma dại, úi chà! Lúc ấy mới biết nước mắt ngắn nước mắt dài, muộn quá rồi!”
Văn Thiển biết thím Trần không chỉ nói nhà người ta, mà còn nói nhà mình.
Thím Trần cũng từng làm dâu. Mẹ chồng bà có ba con trai: thương anh cả, quý chú út, chỉ ghét thứ hai – chồng bà.
Thời trẻ bà chịu biết bao ấm ức, bao nước mắt, cuối cùng bà lão ấy lại tắt thở ở nhà thứ hai.
Hai đứa con trai cưng chẳng kiên nhẫn với mẹ già, chẳng định chăm sóc bà. Lúc sắp chết, bà lão cố tình ăn năn trước mặt con thứ: “Mẹ cả đời làm sai, không ai đưa mẹ đi.”
Cuối cùng chú Trần Hai đón bà về nhà tự tay chăm sóc. Hồi ấy thím Trần tuy không vui nhưng cũng chẳng phản đối.
Văn Thiển năm xưa từng nghe kể trong bữa cỗ. Làng nhỏ, mọi chuyện ai cũng biết.
Dù là chuyện xưa người lớn kể hay chuyện ma, cũng giống chương trình thế giới động vật trên tivi, cách một thời gian lại lặp lại.
Văn Thiển nghe thím Trần kể, an ủi: “Thím là người tử tế, dù bà cụ có sai, thím tự thấy không có lỗi là được. Giờ con cái hiếu thảo, chẳng phải tốt sao.”
Thím Trần nghe nhắc đến con thì mặt mày giãn ra: “Cũng phải, hai đứa con thím đều ổn. Nhưng chuyện người trẻ thím không xen vào. Thím với bố nó tự lo tự ăn, không kéo chân chúng là được, nếu còn để lại được cho chúng thì càng tốt.”
“Làm cha mẹ ai chẳng nghĩ thế.” Văn Thiển thường nghe người ta bàn tán trong bữa cỗ về những gì người chết để lại cho con cái. Những người sắp già đều mong sau khi mất có thể để lại nhiều hơn cho con, họ rất coi trọng tiếng thơm sau khi chết.
Thím Trần về đến nhà, bếp còn bốc khói, chắc chú Trần đang đợi bà ăn cơm.
Văn Thiển chào rồi tiếp tục đi lên.
Với cô, người chết là hết, cô chẳng quan tâm tiếng thơm sau khi chết. Nhưng người già dường như rất quan tâm, hoặc con cháu rất quan tâm.
Một nhà hàng xóm phía trên nhà thím Trần và một hộ phía dưới vì chuyện thoát nước mà kết thù, suốt mười mấy năm không qua lại.
Cuối cùng, một trong hai nhà có người mất, tổ chức tang lễ, vẫn phải đi mời nhà kia. Tại sao? Vì sợ người ta dị nghị.
Dị nghị gì?
Sợ người ta nói người đã khuất lúc sinh tiền ác độc, người chết là lớn, thế mà chết rồi hàng xóm còn không chịu dựa tang, chứng tỏ nhân phẩm lúc sống quá tệ.
Vậy nên con cái nhà đó phải hạ mình đến mời nhà kia. Nhà kia dù không muốn, nhưng bị mọi người lấy câu “người chết là lớn” ra khuyên can, cuối cùng mặt nặng mày nhẹ đến dự.
Mọi người cho rằng nhân cơ hội này hai nhà hòa giải là chuyện tốt.
Nhưng Văn Thiển thấy nhà kia rất ấm ức. Cô nghĩ thế vì hồi ấy cô ngồi cùng mâm với nhà đó trong bữa cỗ.
