Chương 51: Đào rau dại
Cỏ trong dải cây xanh đều non mơn mởn, xanh mướt, lá cũng to.
Tôi lại gần nhìn kỹ, quả nhiên có loại tôi quen, ở đây mọc đầy cây đại kế. Loại cây này đặc điểm khá rõ ràng, lá hình bầu dục thuôn dài, mép có gai đâm tay, hoa màu đỏ tím.
Theo cách dân gian ở nông thôn, người ta dùng nó để chữa bệnh, có hiệu quả với mụn nhọt sưng tấy, giã nát đắp trực tiếp lên chỗ đau là được. Cũng có thể ăn, vị hơi đắng, hái lá non chần qua nước sôi để khử vị đắng, rồi trộn với dầu muối mà ăn.
Tôi nhớ trước đây Lão Lận từng nói: “Cỏ trước Thanh Minh đều ăn được.”
Dù là câu nói đùa, nhưng phần lớn các loài thực vật ngoài giá trị làm thuốc, đều có thể được con người dùng làm thức ăn. Thế hệ trước cũng thường kể rằng thời kỳ khó khăn không có cơm ăn, họ hái đủ loại rau dại trộn vào bột mì làm thành bánh hấp. Đến thế hệ chúng tôi, ăn rau dại chỉ để đổi vị, thưởng thức hương vị đặc biệt.
Gặp rồi, tiện tay hái một ít, sau này ăn cũng có thể nhớ đến mùa xuân.
Dải cây xanh và sườn đồi phía sau mọc đầy rau dại, không chỉ có đại kế, mà còn có rau dền gai, xa tiền thảo (chính là mã đề), me đất, tử vân thái, v.v. Ngoài ra còn có vài loại tôi không quen nên không dám hái.
Dù trước đây tôi đã đọc kỹ “Cứu Hoang Bản Thảo”, nhưng biết lý thuyết và áp dụng thực tế vẫn khác xa nhau.
Những loại rau dại này chỉ coi là thu hoạch nhỏ, quan trọng nhất là tôi còn thấy cả rau sam và rau tề.
Hai loại này cũng là hai loại rau dại chúng tôi thường ăn. Rau sam sau khi chần qua nước, trộn với tỏi giã nhuyễn, vị chua chua rất đặc biệt.
Rau tề có thể nói là loại rau dại được ăn phổ biến nhất cả nước, băm nhỏ làm nhân, gói bánh chẻo, làm bánh bao đều ngon nhất. Trước đây cứ đến mùa xuân, hễ có thời gian là tôi lại cùng bà Diêu cầm túi ni lông ra ruộng, bờ mương đào.
Đào về rồi nhặt sạch, chần qua nước, vắt thành từng nắm, để trong tủ lạnh ăn quanh năm.
Các loại rau dại khác ăn cũng bình thường, hai loại này phải đào nhiều một chút.
Thế là tôi hì hục cả buổi với sườn đồi này, tay cầm xẻng và túi ni lông, mặt hướng xuống đất, lưng hướng lên trời mà hái rau dại. Lúc Tiêu Tiêu tỉnh dậy thì tôi đã hái được mấy túi rồi.
Cô ấy giật mình: “Trời ơi, cậu đang làm gì thế? Trong túi đựng toàn cỏ à? Cậu đào cỏ làm gì?”
“Cậu xem bộ dạng thất học của cậu kìa,” tôi bực bội đáp lại, “Đây đều là rau dại, thời xưa có thể cứu mạng đấy, hiểu không?”
“Sao nào, bây giờ cậu đói đến mức phải ăn rau dại sống qua ngày à?”
“Đây là hương vị quê hương, hiểu không, hương vị!”
“Thôi được, cậu thích hái thì cứ hái. Làm xong tự ăn nhé, tôi không ăn đâu. Tôi vẫn thích rau bán ở chợ hơn. Cậu phải biết rằng, rau dại không được chọn lọc để trồng trọt, chứng tỏ nó không đủ ngon.”
Tôi suy nghĩ về lời Tiêu Tiêu: “Cậu nói cũng có lý, tôi hái rau dại cũng chỉ thỉnh thoảng đổi món, cậu bắt tôi ăn hàng ngày, tôi cũng chịu không nổi.”
Tôi thực sự đồng ý với cô ấy, một số loại rau thời xưa vì vị không đủ ngon nên dần dần đã rời khỏi bàn ăn của chúng ta. Ví dụ như rau quỳ thường được nhắc đến trong thơ phú cổ từng là vua của các loại rau, có vô số bài thơ ca ngợi nó.
“Xanh xanh rau quỳ trong vườn, sương mai chờ ánh nắng ban mai.” [Trích “Trường Ca Hành” của nhạc phủ đời Hán]
“Tháng sáu ăn mận chín, tháng bảy nấu rau quỳ và đậu.” [Trích “Thi Kinh – Bân Phong – Tháng Bảy”]
…
Theo khảo chứng của các chuyên gia, rau quỳ trong thơ cổ chính là một loại rau dại ngày nay gọi là rau đông quỳ, hiện nay rất ít người trồng, từ đời Minh đã không còn mấy người ăn.
“Cậu dậy lúc mấy giờ thế? Tôi vừa ngủ dậy đã thấy cậu biến mất. Cậu không phải cứ đứng đây đào rau dại từ lúc đó chứ?”
Tôi nhìn cô ấy một cái, ngầm xác nhận.
Cô ấy lườm tôi một cái: “Rau dại tự đào thì tự nhớ ăn cho hết nhé.”
Chúng tôi ăn vội bữa sáng đơn giản, quẩy, sữa đậu nành kèm dưa muối, rồi lại lên đường.
Giữa đường xảy ra một chuyện bất ngờ, không hiểu vì sao Hoa Hoa đi ngoài phân lỏng, còn kèm chút máu.
Hai chúng tôi vội cho xe xuống cao tốc, tìm một bệnh viện thú y đưa nó đi khám.
Bác sĩ làm xét nghiệm phân cho nó, không phát hiện vấn đề gì, bảo tôi cho nó uống thuốc chống viêm, cầm tiêu chảy, rồi theo dõi tiếp.
“Cô cũng có thể mua men vi sinh cho nó uống. Theo cô kể thì trước đây nó từng lang thang, hệ tiêu hóa có thể không tốt lắm. Có thể cho uống men vi sinh, từ từ điều chỉnh.” Bác sĩ khuyên như vậy.
“Vâng, bác sĩ, trước đây tôi có mua rồi, về sẽ cho nó uống ngay.”
Lúc mua đồ dự trữ cho Hoa Hoa, tôi có mua mấy lọ men vi sinh, không ngờ dùng đến nhanh vậy.
Cho Hoa Hoa uống thuốc là chuyện rất đơn giản, chỉ cần cậy miệng nó ra, nhét thuốc vào gốc lưỡi, nói chậm mà nhanh, nhân lúc nó không để ý, ngậm chặt miệng nó lại là nó tự nuốt.
Men vi sinh thì cần hòa với nước thành dung dịch, cho nó tự uống. Nhưng Hoa Hoa không thích mùi vị này, nhất quyết không uống. Tôi và Tiêu Tiêu chỉ đành phối hợp, một người giữ nó, một người dùng xi lanh nhỏ hút dung dịch, bơm vào miệng nó.
Uống hết mười ml, cả hai chúng tôi cũng bị nó hành cho kiệt sức.
Hôm đó sợ nó có vấn đề, không dám đi, lại lỡ mất một ngày. Quan sát suốt 24 giờ, sau khi uống thuốc không thấy đi ngoài nữa, chúng tôi mới lại lên đường.
