Chương 26: Người không trêu được (hạ)
“Nhưng anh à… nó đánh em ra nông nỗi này, mình đành nuốt giận sao? Chuyện này mà lọt ra ngoài, thể diện của anh biết để đâu?” Trương Báo không cam lòng, lẩm bẩm một câu.
Trương Hổ cười lạnh: “Thể diện? Thể diện đáng mấy đồng tiền? Lăn lộn ở Thanh Châu bao nhiêu năm rồi, mày vẫn chưa hiểu ra một lẽ — với những nhân vật thật sự tầm cỡ, bóp chết loại người như chúng ta chẳng khác nào giơ tay lên. Hôm nay người ta chỉ bóp nát cổ tay mày, là vì người ta đang vui. Mày mà chạm vào vảy ngược của người ta, thì giờ mày đâu còn đứng đây nói chuyện với tao, mà đã nằm ở gò hoang cho chó hoang ăn rồi.”
Hắn ngồi lại xuống ghế, cầm chén trà tu một ngụm trà nguội, sát khí trong đáy mắt dần bị thay bằng sự tính toán sâu xa. Hắn lăn lộn ở Thanh Châu hơn mười năm, đã thấy quá nhiều kẻ không biết nhìn người chết ở đầu đường cuối ngõ — những kẻ đó trước khi chết đều có một điểm chung: không biết mình đã chọc phải ai. Trương Hổ hắn sống được đến hôm nay, dựa vào đúng một quy tắc sắt: kẻ không trêu được thì phải nhận.
“Lý Tam,” Trương Hổ bỗng lên tiếng, giọng đã trở lại vẻ trầm ổn thường ngày, “ra kho bê vò rượu Phần già hai mươi năm của ta ra, rồi chuẩn bị hai tấm lụa thượng hạng, một đôi như ý ngọc xanh, phong năm mươi lượng bạc, xếp vào hộp lễ.”
Lý Tam đứng ở cửa sững người, dè dặt hỏi: “Hổ gia… đây là định…?”
“Vô nghĩa cái gì!”
Trương Hổ đứng dậy, sửa lại cổ áo, quay đầu nhìn Trương Báo vẫn còn quỳ trên đất, thản nhiên nói: “Mày, lập tức cút về quê cho tao. Trong ba năm không được bén mảng đến Thanh Châu.”
Trương Báo như bị sét đánh, đột ngột ngẩng đầu, mặt đầy vẻ không thể tin nổi: “Anh! Anh không những không báo thù cho em, mà còn định đi xin lỗi nó?! Anh điên rồi à?!”
Trương Hổ bước tới, ngồi xổm xuống nhìn thẳng vào mắt Trương Báo, nói từng chữ một: “Đuổi mày về quê là để giữ mạng cho mày. Mày tưởng Lục Vân chỉ là một người thôi sao? Mày động não đi — Đồng Bì trung kỳ, lại họ Lục, sống ở Lục gia thôn, mày nói xem, gia tộc lớn nhất Thanh Châu họ gì?”
Trương Báo chớp mắt hai cái, sắc mặt trong chớp mắt mất sạch huyết sắc. Họ Lục. Gia tộc lớn nhất Thanh Châu chính là Lục gia.
Hắn tuy ngu, nhưng cũng không đến mức ngu tới độ không biết Lục gia ở Thanh Châu có nghĩa là gì. Trong gia tộc đó, tùy tiện bước ra một người cũng đủ khiến bang chủ Kim Đao bang đích thân ra cửa đón tiếp. Cho dù chỉ là chi thứ xa xôi của Lục gia, cũng không phải thứ dân lưu manh chợ búa như hắn dám động vào.
“Hiểu rồi chứ?” Trương Hổ vỗ vỗ mặt hắn, “Hiểu rồi thì cút. Sau này kẹp đuôi mà sống, đừng gây chuyện cho tao. Tao cứu được mày một lần, không cứu được lần thứ hai.”
Trương Báo thất thần đứng dậy, được hai bang chúng dìu ra khỏi nhà chính. Hắn ngoái đầu nhìn anh trai một cái, môi mấp máy định nói gì đó, nhưng cuối cùng vẫn không thốt ra được, cúi đầu bỏ đi.
Trương Hổ đứng ở cửa nhà chính, nhìn bóng lưng em trai khuất sau cổng sân, mặt không chút biểu cảm. Hắn quay người, nói với Lý Tam: “Chuẩn bị ngựa. Trời sáng mai là xuất phát, đi Lục gia thôn.”
……
Cùng lúc đó, trong sâu Thương Ngô sơn, trại Hắc Phong.
Trời vừa hửng sáng, sương núi còn chưa tan hết, cổng trại Hắc Phong trong ánh bình minh trông tiêu điều mà tĩnh lặng. Trại được dựng trên một thềm đá tự nhiên giữa lưng chừng núi, bốn phía đều là dốc đứng, chỉ có một con đường hẹp dẫn lên, dễ thủ khó công. Hùng Khoát chọn nơi này làm hang ổ, quả thật đã bỏ không ít tâm tư.
Nhưng địa thế hiểm trở đến đâu cũng không chống nổi việc trại chủ không có nhà.
Bốn tên sơn phỉ ở lại đang nằm bên bếp lửa trong nghĩa sảnh, ngáy khò khò. Củi trong bếp đã cháy thành tro, chỉ còn mấy cục than đỏ thẫm còn lập lòe. Trên đất ngổn ngang mấy vò rượu, hai vò đã cạn, một vò nằm nghiêng đổ ra một vũng rượu, cả căn phòng nồng nặc mùi rượu chua khó ngửi.
Lục Vân đẩy cửa nghĩa sảnh bước vào, bốn người vẫn còn đang gặp Chu Công trong mộng. Hắn đi tới bên bếp lửa, dùng mũi chân huých vào đế giày của một tên. Tên đó trở mình, lẩm bẩm chửi một câu, rồi lại bất động.
Lục Vân cúi xuống nhặt một vò rượu dưới đất, ném vào bếp lửa. Tiếng vò đất vỡ vang lên chát chúa trong nghĩa sảnh trống trải, tro than trong bếp phụt lên, tàn lửa bắn vào người cả bốn tên.
Bốn người cùng lúc bật dậy.
“Ai?!”
Tên sơn phỉ gần bếp lửa nhất luống cuống mò đao, mò nửa ngày không thấy, đêm qua lúc uống rượu hắn đã ném đao vào góc. Ba tên còn lại cũng lồm cồm bò dậy, mắt nhập nhèm say rượu trừng trừng nhìn kẻ lạ mặt trước cửa.
Lục Vân đứng ở cửa, ánh bình minh chiếu từ sau lưng hắn vào, đổ một cái bóng dài xuống đất. Hắn mặt không biểu cảm nhìn bốn tên sơn phỉ còn chưa tỉnh rượu, ánh mắt dừng lại trên gã đàn ông râu quai nón đứng đầu.
“Hùng Khoát đã chết rồi.”
Giọng Lục Vân bình thản như đang nói sáng nay ăn gì, “Trại Hắc Phong từ hôm nay không còn tồn tại. Bọn mày nếu muốn học theo đại đương gia của bọn mày, thì giờ có thể động thủ, nhưng tao khuyên bọn mày nên đưa ra quyết định có não một chút.”
Bốn người nhìn nhau. Râu quai nón tỉnh rượu được hơn nửa, hắn đánh giá bộ dạng Lục Vân — áo bông rách, giày vải cũ, trông chẳng khác gì một gã nông dân, nhưng gã nông dân này dám một mình đứng trong nghĩa sảnh trại Hắc Phong nói Hùng Khoát đã chết, còn nói nhẹ như giết một con gà, thì hoặc là điên, hoặc là nhân vật hung ác mà hắn không trêu được.
Ánh mắt râu quai nón lại dừng trên tay phải Lục Vân, đôi tay này đêm qua chắc chắn đã dính máu.
Quy tắc sắt đầu tiên khi lăn lộn giang hồ: đừng lấy mạng mình ra để thử thực lực của người khác.
“Ngài… ngài muốn bọn tôi làm gì?” Râu quai nón nuốt nước bọt, giọng run run.
“Thông minh.” Lục Vân khẽ gật đầu, “Dẫn tao đến kho của Hùng Khoát. Rồi bê hết đồ đáng giá trong trại ra, không được sót một món.”
Râu quai nón không nói hai lời, lồm cồm dẫn Lục Vân đi về phía sau trại. Ba tên còn lại cũng không dám giở trò, ngoan ngoãn theo sau. Không phải bọn chúng trung thành gì, mà là lúc nãy khi Lục Vân nói Hùng Khoát đã chết, bọn chúng đã quan sát kỹ kẻ lạ mặt này ở cự ly gần, khí thế của người tới mạnh hơn đại ca của bọn chúng không chỉ một bậc.
Kho của Hùng Khoát giấu trong khe vách đá sau trại, bên ngoài chặn bằng một tảng đá xanh lớn, không cố tìm thì căn bản không phát hiện ra. Tảng đá xanh ít nhất cũng nặng bảy tám trăm cân, Hùng Khoát nhờ sức của Đồng Bì nhị trọng, xưa nay không khóa — trại Hắc Phong ngoài hắn ra, không ai nhấc nổi tảng đá này.
Lục Vân đặt tay lên mép tảng đá xanh, ước lượng sức nặng, rồi năm ngón phát lực, đầu ngón tay cắm thẳng vào mặt đá, nhẹ nhàng như cắm vào bùn ướt. Hắn một tay đẩy, tảng đá xanh bảy tám trăm cân lăn ầm ầm sang một bên như quả bóng, lộ ra một cánh cửa gỗ thấp phía sau.
Bốn tên sơn phỉ nhìn mà mềm nhũn cả chân. Mặt râu quai nón trắng như tờ giấy, trong lòng vô cùng mừng rỡ vì mình đã không làm chuyện ngu — cái này mà là người à? Đại đương gia nhấc tảng đá này còn phải ôm bằng hai tay mà dịch nửa ngày, người này một tay đã đẩy ra, như đẩy một cánh cửa củi.
Sau cửa là một kho nhỏ đục vào vách đá, không lớn nhưng chất đầy ắp. Lục Vân bước vào nhìn một vòng, đồ đạc quả thật không ít. Sát tường xếp hơn chục thùng gỗ, mở ra xem, bảy tám thùng là lương thực và thịt khô, năm thùng là vải vóc và dược liệu. Trên bệ đá trong góc chồng ba cái rương sắt, khóa đã gỉ, Lục Vân giật phăng chốt khóa mở nắp, bên trong xếp ngay ngắn bạc vân tuyết — sơ sơ đếm qua, ít nhất cũng sáu trăm lượng. Bên cạnh còn một rương nhỏ đựng tiền đồng, dây gai xâu tiền gần như đã mục đứt.
……
