44. Gói hàng
Đọc tới đây, tôi giật mình. Năm 1950, đã hơn sáu mươi năm trước, lúc đó đã có người mưu tính chuyện Cửu Sư Bái Tượng này rồi sao?
Trước đây, Trần tiên sinh từng nói, khi ông mới bắt đầu học nghề, trong giới thợ thuyền của họ đã lan truyền thuyết về Cửu Sư Bái Tượng. Vậy tính theo tuổi của Trần tiên sinh hiện giờ khoảng năm mươi, thời đại của ông nhiều nhất cũng chỉ cách đây hơn ba mươi năm. Thế mà cuốn nhật ký của bà tôi lại đẩy thời gian lên trước khoảng ba mươi năm, có thể thấy sự việc này kéo dài lâu đến thế nào, và cũng hiểu được bí mật trong Cửu Sư Bái Tượng sâu xa ra sao.
Ít nhất cho đến bây giờ, vẫn chưa có ai biết được bí mật thực sự của Cửu Sư Bái Tượng. Tôi nghĩ, người gần với bí mật Cửu Sư Bái Tượng nhất, có lẽ là ông chú bà ngoại bằng giấy của tôi, bởi chỉ có ông ấy mới hiểu được mấu chốt của Cửu Sư Bái Tượng nằm ở chỗ ngoảnh đầu nhìn lại!
Đang lúc tôi định đọc tiếp, cửa phòng sau lưng mở ra, Trần tiên sinh gọi tôi vào. Tôi dạ một tiếng, giấu cuốn nhật ký vào trong ngực rồi mới vào. Phải, tôi không muốn để Trần tiên sinh biết bà tôi còn để lại cuốn nhật ký này. Còn vì sao, nhất thời tôi cũng không nói rõ được, nhưng cứ cảm thấy không cho ông ấy xem mới là lựa chọn đúng đắn nhất.
Vào nhà xong, Trần tiên sinh nói với tôi: “Đến Trùng Khánh, có vài việc anh cần dặn em.”
Tôi kéo ghế ngồi đối diện Trần tiên sinh, gật đầu tỏ ý sẽ ghi nhớ.
Trần tiên sinh nói: “Thứ nhất, thằng Trương Hà Tử ở Trùng Khánh tính tình hơi cổ quái, em đừng chấp nó, nhất định phải mời được nó tới. Hiện giờ xem ra, chỉ có nó mới phá được vụ ‘năm vóc sát đất’ này. Thứ hai, mời được người rồi, đưa địa chỉ cho nó, còn em thì đừng về nữa, học hành cho tốt. Thứ ba, đừng nói ông em là Lạc Triều Đình, tiện thể bịa một cái tên.”
Nghe xong tôi hỏi: “Sao lại không được nói ạ?”
Trần tiên sinh nói: “Anh sợ em nhắc tên ông em, nó sẽ không chịu tới.”
Tôi vẫn chưa hiểu, hỏi: “Sao ạ?”
Trần tiên sinh nói: “Trùng Khánh cái chỗ đó thợ thuyền nhiều, với bản lĩnh của ông em, hồi trẻ chắc chắn từng qua đó tung hoành, anh sợ trước đây ông em từng kết thù oán ở đó.”
Tôi gật đầu, nói với Trần tiên sinh: “Đúng là già vẫn ho già, nếu không có chú nhắc trước, cháu thật không nghĩ tới mấy chuyện này.”
Trần tiên sinh nói: “Thằng nhỏ ranh, cũng biết nịnh đấy.”
Sau đó không có chuyện gì nữa, tôi đi ngủ sớm. Mẹ tôi vẫn còn loay hoay trong bếp, lần nào cũng vậy, trước khi tôi đi, bà đều thức đến nửa đêm. Trong lòng cảm động, nhưng cũng thêm nhiều áy náy. Tôi nghĩ thầm nhất định phải mua một căn nhà ở Trùng Khánh, rồi đón bố mẹ lên đó sống.
Sáng hôm sau, trời vừa hửng sáng, ngoài sân đã vọng vào tiếng gọi cửa của bác hai. Tôi vội vàng trở dậy, phát hiện Trần tiên sinh đã dậy từ lúc nào. Đợi tôi ra sân, thấy bố mẹ và bác cả đều đã ở đó. Mẹ tôi đưa cho tôi một túi ni lông nhỏ, bên trong toàn đồ ăn. Chia tay đơn giản xong, tôi theo bác hai lên đường.
Đi được một đoạn, tôi ngoảnh lại thấy bố mẹ, bác cả và Trần tiên sinh vẫn đứng ở cửa tiễn, lòng lại không khỏi chùng xuống.
Đi tới đầu làng, ngang qua sân nhà Trần Thợ Nề, nhớ lại những chuyện đã xảy ra, vẫn còn thấy sợ. Nhưng trong lòng cũng có chút thản nhiên, chờ khi tôi tới Trùng Khánh, có lẽ tất cả những gì tôi gặp ở làng này đều sẽ trở thành chuyện cũ trần gian thôi.
Từ làng lên thị trấn phải đi bộ gần nửa ngày. Giữa đường tôi với bác hai ăn chút bánh, nghỉ ngơi một lát, tới thị trấn đã là hai giờ chiều. May mà vẫn kịp chuyến xe cuối cùng đi Tú Sơn. Muốn đi tàu hỏa thì phải tới Tú Sơn, mấy thị trấn nhỏ quanh đó đều không có ga tàu.
Tới Tú Sơn đã sáu giờ chiều, không mua được giường nằm, chỉ mua được hai vé ngồi cứng. Xe của bác hai khởi hành trước xe tôi, ăn uống gì đó gần ga Tú Sơn xong, bác vội vã lên đường. Trước khi lên tàu, bác nhất quyết nhét vào túi tôi hai trăm tệ. Tôi định trả lại thì bác đã soát vé lên tàu mất rồi.
Tàu của tôi chín giờ tối mới chạy, còn khoảng hai tiếng nữa, nên tôi tìm một chỗ ngồi trong phòng chờ, định xem lại cuốn nhật ký của bà, từ tối qua tới giờ chưa có dịp xem.
Nhưng chưa kịp lấy nhật ký ra, bên cạnh đã có một anh chàng trẻ ngồi xuống, vừa ngồi vừa chửi ầm lên: “Đụ má tổ tụi mày, lại cho tao trễ nữa.”
Tôi nghiêng đầu liếc nhìn hắn. Dáng người trung bình, trạc tuổi tôi, chắc lớn hơn tôi một hai tuổi. Ăn mặc khá thời trang, tóc hơi dài, phần trước đã che tới mắt, khiến mắt hắn trông rất nhỏ, nếu cười lên chắc chẳng thấy tròng mắt đâu. Toàn bộ câu nói là giọng Trùng Khánh, chắc là dân Trùng Khánh chính gốc. Dân Trùng Khánh thích ăn lẩu, tính khí đều khá nóng.
Tôi không nhìn nhiều, định tiếp tục tìm nhật ký của bà để đọc. Nhưng hắn lại chủ động bắt chuyện: “Thầy (người Trùng Khánh gọi đàn ông lạ hoặc là soái ca, hoặc là thầy), cũng đi Trùng Khánh hả?”
Tôi gật đầu: “Ừ.”
Hắn hỏi: “Đi chuyến nào?”
Tôi đưa vé cho hắn xem.
Hắn lại hỏi: “Có gấp không?”
Tôi nghĩ thầm, thằng này chắc là phe vé, tới đây bán vé chợ đen. Nên tôi lắc đầu: “Không gấp.”
Hắn nói: “Vậy chú ý nhé, chuyến này của ông thường trễ hai ba tiếng.”
Tôi đã xác định hắn là phe vé, nên chỉ cười, không nói gì.
Sau đó hắn cũng không nói thêm, tôi xem nhật ký, hắn chơi điện thoại. Thấy hắn chơi điện thoại, tôi mới nhớ ra, điện thoại mình vẫn chưa mở máy. Tôi liền lấy điện thoại ra mở máy, vừa mở đã nghe một hồi chuông báo tin nhắn liên tiếp. Mở ra xem, đã có mấy chục tin nhắn, còn bảy tám cuộc gọi nhỡ. Đều từ một số gửi tới, nhưng số điện thoại hiện ra là số lạ chưa từng lưu.
Nội dung tin nhắn đại khái giống nhau, nói có gói hàng của tôi, đã để ở phòng bảo vệ trường rồi. Thì ra là số của nhân viên giao hàng. Tôi nghĩ, trước khi về nhà tôi có mua gì đâu, ai lại gửi đồ cho tôi? Như một thằng ế vợ chưa từng yêu đương ở trường như tôi, ngoài tự mua cho mình ra, tuyệt đối không thể nhận được quà cáp gì.
Nên tôi nhắn lại giải thích lý do, và hỏi liệu anh ta có nhớ ai là người gửi không.
Tin nhắn gửi đi, đợi một lúc, quả nhiên không thấy hồi âm.
Lúc này anh chàng bên cạnh lại bám lấy tôi nói chuyện: “Thầy ơi, tôi vừa nhìn đã biết mình có duyên, để lại cách liên lạc đi, sau này có chuyện gì thì liên lạc.”
Ban đầu tôi từ chối, nhưng không chịu nổi sự nhiệt tình của hắn, đành phải cho hắn số điện thoại. Hắn có vẻ không tin, còn quay số ngay trước mặt tôi, đợi điện thoại tôi reo lên mới hài lòng ngồi lại chỗ.
Tôi thấy hắn lưu tên tôi trong danh bạ, ghi chú là “Khách 132”.
Thấy cảnh này, tôi không khỏi buồn cười, thằng phe vé này không chỉ tận tâm mà còn rất có đầu óc.
Thời gian còn lại khá yên tĩnh, cuối cùng tôi cũng có dịp lấy cuốn nhật ký của bà ra, lật tiếp vài trang, trên đó ghi chép sinh hoạt thường ngày và chuyện trong nhà. Một dòng thu hút sự chú ý của tôi, viết về việc ông tôi hình như đã nổi bật trong đám người tới nhà họ.
Đọc tới đây tôi không khỏi nghĩ, ông tôi với vẻ mặt nông dân thật thà chất phác ấy, cũng có thể nổi bật sao?
Mỗi trang giấy tôi đều đọc rất kỹ, hy vọng tìm ra manh mối, nhưng đọc hơn chục trang vẫn không thu hoạch được gì.
Lúc này anh chàng bên cạnh nói: “Xe tôi tới rồi, tôi đi trước nhé. Lát nữa có chuyện gì thì nhớ gọi cho tôi.”
Nói xong hắn đứng dậy đi về phía cửa soát vé. Tôi nhìn lên màn hình, không thấy có chuyến tàu nào khởi hành trong khoảng thời gian này. Vậy hắn tới đó làm gì?
Nhưng dù sao cũng không liên quan tới tôi, tôi lười nghĩ nữa, tiếp tục xem nhật ký của bà. Vừa lật sang trang, tôi thấy nội dung trang này hoàn toàn khác với những trang trước, viết về việc bà và ông tôi tìm thấy một ngôi mộ, hai người định hôm sau xuống xem thử.
Đang định đọc tiếp thì điện thoại reo lên, một tin nhắn từ số lạ nãy giờ: “Tôi nhớ người gửi gói hàng cho anh, hình như tên là Lạc Triều Đình.”
Ông tôi đã chết hơn một tuần rồi, sao có thể gửi đồ cho tôi?
Chẳng lẽ ông lại bò dậy, đặc biệt chạy ra thị trấn gửi cho tôi một gói hàng?
