Chương 8: Kiểm kê
Trong phòng chứa đồ bên cạnh còn sáu bình gas đầy.
Nếu Thủy Lê dùng một mình, ít nhất cũng dùng được hai năm.
Còn hai bình có vẻ đã hết, nhưng Thủy Lê không định bỏ qua chúng. Người không biết thường nghĩ lửa nhỏ là hết gas, cần thay bình mới.
Nhưng Thủy Lê biết cách tận dụng tối đa giá trị của bình gas. Đó là kinh nghiệm quý báu cô có được khi sống cùng bà ngoại ở quê.
Nghĩ là làm, cô hít một hơi trấn tĩnh trái tim đang đập loạn, đôi tay run rẩy, nhưng vẫn không quên cảnh giác.
Khóa chặt cửa cuốn giữa tầng chín và tầng mười, lại kéo thử cửa cuốn tầng mười một xem có chắc chắn không.
Kiểm tra xong, cô mới quay lại bếp sau để kiểm kê kỹ lưỡng.
Đầu tiên, mở tủ lạnh ba cánh cao hai mét, rộng ba mét.
Ngăn trên cùng có một túi lớn bánh bao trắng, chắc hơn ba mươi cái.
Cà chua ít nhất mười cân, cần tây chắc hai mươi cân, bắp cải năm cây, cải thìa cũng chừng mười cân.
Súp lơ trắng mười cây, súp lơ xanh mười cây, tỏi tây hai mươi cân, hẹ hai mươi cân, ớt xanh và ớt cay mỗi loại một túi lớn, cà rốt và củ cải trắng mỗi loại mười cân.
Cà tím hai mươi quả, đậu que ba mươi cân. Tỏi mười cân, gừng mười cân, hành lá ba mươi cân. Dưa chuột hai mươi cân, nấm sò mười cân, nấm đùi gà mười cân, nấm hương mười cân.
Bắp cải thảo tám cây, cải thảo non ba mươi cây, kim châm mười cân, tỏi tây vàng mười cân, mướp đắng mười cân, bí non năm quả.
Ngoài ra, rau không để trong tủ lạnh còn có một bao khoai tây và một bao hành tây, mỗi bao trăm cân.
Cạnh thớt còn ba cây bắp cải, hơn chục củ tỏi và ba củ gừng.
Ngăn giữa tủ lạnh, rộng chừng một thước. Bên trong chỉ có một loại thực phẩm, đó là thịt xay. Được đựng trong từng túi ni lông riêng, mỗi túi chừng năm cân.
Thịt xay gồm thịt lợn xay và thịt bò xay. Mỗi loại mười túi, tức là khoảng trăm cân thịt xay.
Phía dưới tủ lạnh có ba ngăn kéo.
Ngăn thứ nhất đựng thịt nạc thái miếng, mỗi miếng hai cân, đủ ba mươi miếng, tức sáu mươi cân. Nhìn là biết dùng để xào.
Ngăn thứ hai là thịt ba chỉ, cũng từng miếng, chắc năm mươi cân.
Ngăn thứ ba là thịt kho. Có mặt thủ lợn, tai lợn, lưỡi lợn, gan lợn, dạ dày lợn, phổi lợn, tim lợn, đại tràng lợn, móng giò lợn, đuôi lợn, thịt chân giò lợn... các loại đồ kho. Ít nhất cũng phải sáu mươi cân.
Bên cạnh còn hai tủ đông lớn.
Một tủ toàn hải sản đông lạnh.
Cá hoàng một bao tải lớn, cá hố tám thùng giấy to, cá thu một bao tải lớn, tôm nõn sáu thùng, tôm khô hai cân, tép bạc khô ba mươi cân, mực khô hai thùng, cá mặn nhỏ mười lăm cân.
Tủ đông còn lại, một bên là thịt bò kho, thịt lừa kho và sườn. Một bên là gà nguyên con, ức gà, đùi gà, cánh gà, chân gà, xương gà...
Đầy ắp hai tủ đông lớn, mấy năm tới Thủy Lê không thiếu thịt ăn.
Kiểm kê xong những thứ này, Thủy Lê lại điểm qua gạo mì dầu ăn.
Gạo tẻ mười bao rưỡi, mỗi bao năm mươi cân. Bột mì mười một bao rưỡi, mỗi bao năm mươi cân.
Bột ngô hai trăm cân, ngô mảnh một trăm năm mươi cân, cao lương một trăm cân, kê hai trăm cân, gạo đen năm mươi cân.
Khoai lang, lạc, đậu tương, đậu xanh, đậu đỏ mỗi loại một trăm cân, đậu đen năm mươi cân.
Dầu lạc chín thùng, mỗi thùng hai mươi cân, mỡ lợn hai hũ lớn chắc năm mươi cân, dầu hạt cải và dầu đậu nành mỗi loại tám mươi cân.
Trứng gà chắc nghìn quả. Trứng bắc thảo chừng năm trăm quả, trứng vịt muối hai trăm quả.
Gia vị: muối năm thùng, dầu mè hai mươi sáu chai, nước tương đen một thùng rưỡi mười lăm chai, nước tương nhạt mười chín chai rưỡi, dấm gạo một thùng tám chai, dấm trắng chín chai, rượu nấu ăn tám chai, xì dầu hấp cá mười hai chai, dầu hào mười ba chai rưỡi.
Bột ngọt, mì chính hơn bốn mươi gói, thập hương một thùng lớn, men nở hai gói lớn, thuốc muối mười sáu gói, đường trắng và đường phèn mỗi loại mười cân, bột bắp và bột khoai đều có.
Tương ớt Lão Càn Mã ba mươi tám chai, tương đậu Tỳ huyện hai mươi hai chai, tương đậu nành chai lớn mười lăm chai, đế lẩu cũng hai ba chục gói.
Hoa hồi, đại hồi, ớt khô, mỗi loại ít nhất ba mươi cân. Tía tô, tảo bẹ khô, mộc nhĩ, ngân nhĩ, nấm khô mỗi loại cũng chừng mười mấy cân.
Miến dong cũng là món Thủy Lê thích nhất, miến rộng và miến nhỏ mỗi loại trăm cân.
Trái cây: dưa hấu mười quả, nho hai thùng, táo một sọt, chuối mười bảy nải (vỏ đã có đốm đen). Đều là trái cây theo mùa phổ biến miền Bắc.
Dụng cụ nhà bếp: ngoài bếp ga bốn lửa, còn có một bộ nồi hấp lớn bốn tầng, chủ yếu dùng trong nhà hàng, quán cơm để hấp bánh bao, bánh mì.
Nồi hấp nhỏ hai tầng gia dụng hai cái, chảo gang hai cái, nồi áp suất lớn một cái, chảo điện lớn một cái, nồi đất lớn ba cái.
Thớt gỗ kích thước một mét nhân hai mét hai cái, đều dùng để làm đồ bột. Thái rau dùng gốc cây, có bốn cái, chắc hẳn danh xưng "thái gốc" trong bếp nhà hàng là từ đó mà ra.
Dao: dao lọc xương hai cái, dao chặt xương hai cái, dao thường năm cái. Lại góp thêm vũ khí cho kho vũ khí của Thủy Lê.
Cái sàng gói bánh chẻo đúng mười cái, máy làm mì thủ công hai cái, máy làm sữa đậu nành điện lớn một cái, lò vi sóng hai cái, nồi cơm điện lớn ba cái.
Thùng nhựa lớn có nắp đựng nước ba cái, bên trong đều đầy nước. Chắc để phòng mất nước, tiện cho Thủy Lê.
Còn mấy chục cái chậu inox lớn nhỏ, thùng nhựa nhỏ có nắp mười cái. Muôi, thìa, vợt... đầy đủ.
Còn hộp đựng đồ ăn mang về cũng phải vài trăm cái. Màng bọc thực phẩm, giấy bạc cũng có.
Kiểm kê xong, Thủy Lê lắp một đầu đốt vào bình gas rỗng, lấy nồi hấp nhỏ gia dụng, mở vòi lấy nửa nồi nước (may chưa mất nước, nhưng chắc cũng sắp), rồi bật lửa đợi nước sôi.
Đúng như Thủy Lê dự đoán, trong bình gas vẫn còn nhiều ga, nấu một bữa không thành vấn đề.
Lại dùng muôi múc hai cân gạo vo sạch để sẵn. Phải, Thủy Lê định nấu cơm.
Dù mất điện, Thủy Lê vẫn có thể hấp cơm bằng bếp lửa. Đều học từ bà ngoại.
Cách làm rất đơn giản: nước sôi cho gạo vào, đảo vài lần, nấu đến chín phần thì dùng vợt vớt ra.
Sau đó trải một lớp vải màn lên xửng, gọi là vải xửng. Cho gạo đã vớt lên hấp mười phút là xong.
Trong lúc chờ, Thủy Lê tranh thủ nhìn không gian một chút, thấy hơi lộn xộn.
Hơn nữa, không gian sau khi hấp thụ số bạc, ngọc, đồ cổ, tranh chữ đã lên tám mươi mét vuông. Cộng với chiều cao bốn mét, giờ đã hơn ba trăm hai mươi mét khối.
Tìm một chỗ rộng rãi, trước tiên cô lấy hết thức ăn, thuốc men, máy tính bảng và sạc dự phòng trong không gian ra.
Lại lấy bốn thùng đựng đồ tìm được ở công ty may mặc. Xé một tờ giấy A4 cắt làm bốn mảnh.
Lần lượt viết: đồ ăn vặt kẹo bột trà, đồ ăn tự sôi, máy tính bảng sạc dự phòng, thuốc men.
Dùng băng dính dán lên từng thùng. Sau đó phân loại, xếp gọn vào một góc không gian.
Muốn lấy một món đồ nào đó cũng rất đơn giản, chỉ cần nghĩ trong đầu là có thể lấy ra mà không cần mở thùng.
Còn lại là mì ăn liền, có thể xếp thùng thì xếp vào thùng giấy bỏ vào không gian, không có thùng thì tìm một túi lớn nhét tất cả vào rồi cất.
Chuyển "cô bé hồng phấn" sang một góc khác, dùng rèm che lại. Rồi xếp đống quần áo mới lên giường.
