Chương 348: Cửu Phụ Quán.
Những ngày sau đó, tiếng rìu đục leng keng và tiếng hò hét xây dựng trên núi Cửu Phụ Kỳ đã thay thế cho tiếng chim hót gió reo ngày thường.
Lão đạo sĩ không còn ở khách điếm nữa, mà dựng ngay một cái lều tạm bợ cạnh công trường, ăn ngủ cùng với thợ thuyền.
Bạch Vị Hi không thường xuyên có mặt. Nàng luôn xuất hiện một cách lặng lẽ, đeo trên lưng chiếc sọt tre, đôi mắt đen thăm thẳm lướt qua công trường. Thỉnh thoảng nàng chỉ tay vào một cây xà đang được dựng lên hoặc một bức tường đang được đầm chặt, nói ngắn gọn với quản công: "Chỗ này, có thể thêm một cái mộng ẩn." Hoặc: "Móng phải đào sâu thêm nửa thước, bên dưới có đá cứng."
Lời nói của nàng không nhiều, nhưng lúc nào cũng trúng chỗ yếu hại, hễ nói là đúng. Từ chỗ nghi ngờ ban đầu, đến kính sợ, rồi gần như nghe theo mọi lời, bọn thợ thuyền chỉ mất một thời gian rất ngắn.
Chúng thì thầm với nhau, cô nương này e rằng có con mắt xuyên thấu đất cây.
Còn hồ ly nhỏ thì ở lại cùng lão đạo sĩ. Nó thường hóa thành hình dạng mèo đen, thong thả đi qua lại trên những bức tường xây được một nửa, giám sát đám thợ đang đổ mồ hôi như mưa bên dưới.
Thỉnh thoảng nó lại chuồn vào rừng, lúc về thì ném xuống một con dúi mập ú, coi như "góp gạch xây tường" cho bữa ăn của lão đạo.
Khung cảnh của đạo quán ngày càng rõ ràng. Tuy không đồ sộ, nhưng chỗ nào cũng toát lên sự tinh tế và khí độ.
Toàn bộ đạo quán tọa lạc theo hướng nam, lưng tựa vào dãy núi chính Cửu Phụ Kỳ xanh tươi, như dựa vào một tấm bình phong. Phía trước tầm nhìn rộng mở, có thể nhìn xuống con đường núi uốn lượn và đường nét mờ ảo của huyện thành Du Khê ở xa xa.
Một dòng suối trong vắt được khéo léo dẫn dòng, chảy vòng quanh phía tây nam của đạo quán, vừa tiện lấy nước, vừa hợp với ý tưởng phong thủy "ngọc đai ôm eo".
Toàn bộ đạo quán được dẫn vào từ con đường chính bằng một bậc thang đá xanh uốn lượn. Bên bậc thang điểm xuyết vài khóm trúc xanh mới được di chuyển đến, tuy chưa thành rừng, nhưng đã thấy ý vị tao nhã.
Cổng sơn môn được xây bằng những cột đá xanh vuông vức, bên trên lợp mái ngói nhỏ, tuy không cao lớn, nhưng toát lên vẻ trang nghiêm vững chãi. Phía trên khung cửa dành sẵn một chỗ để treo biển, chưa có chữ.
Qua khỏi sơn môn là một khoảng sân lát sỏi khá rộng. Những viên sỏi được thợ thuyền chọn lọc kỹ lưỡng, to nhỏ đều nhau, ghép thành một hình bát quái đơn giản.
Một góc sân, dựa vào một tảng đá tự nhiên, người ta đục thành một cái ao nhỏ, dẫn nước sống vào, thả vài con cá nhỏ bắt từ khe suối dưới núi, bỗng chốc tràn đầy sức sống.
Tường viện là tường gạch xanh dày, trên tường lợp ngói.
Chính điện nằm ở phía bắc của sân, rộng ba gian, sâu hai gian, kết cấu mái đòn tay.
Các cột xà được chọn từ những cây sam già trăm năm tuổi khai thác trong núi sâu, thớ gỗ chắc mịn, vân như mây, chỉ quét một lớp dầu trong, để lộ màu gỗ ấm áp tự nhiên.
Kết cấu đấu củng đơn giản nhưng vững chãi. Tuy là đạo quán nhỏ trong núi, nhưng cũng làm theo kiểu "một đấu ba thăng", nâng đỡ mái hiên vươn xa.
Mái lợp bằng ngói ống màu xanh đen dày, ngói lợp là loại hoa sen mới nung, đều tăm tắp.
Chính giữa nóc mái đặt một quả hồ lô bằng gốm xanh mộc mạc, hai bên có tàu đao ổn, đường nét giản lược, toát lên vẻ đẹp cổ xưa.
Nền điện lát những tấm đá xanh lớn, được mài nhẵn bóng. Tuy điện thờ không quá cao lớn, nhưng nhờ cột xà to khỏe, kết cấu nâng đỡ hợp lý, bên trong trông rộng rãi thoáng đãng, ánh sáng rất tốt.
Ánh nắng từ cánh cửa lùa phía nam và cửa sổ cao hai bên chiếu vào, tạo thành những mảng sáng rõ rệt trên nền đá xanh, cũng soi sáng khắp điện.
Giữa điện, trên tòa sen là tượng Thái Thượng Lão Quân bằng đất nung. Tượng cao gần tám thước, thể tích vừa phải.
Lão Quân đội mũ Phù Dung, khuôn mặt thanh tú nhưng từ hòa, mày dài mắt nhỏ, ba chòm râu dài rủ xuống ngực, tay phải khẽ nâng lên, như đang cầm phất trần giảng đạo, tay trái nhẹ nhàng đặt trên đầu gối.
Các nếp áo chảy mềm mại như nước, nếp gấp tự nhiên, như có làn gió nhẹ thổi qua.
Pho tượng chủ yếu được vẽ màu, áo bào lấy màu xanh và nâu đỏ làm tông chính, điểm xuyết một chút xanh lục và chu sa, màu sắc trầm tĩnh nội liễm.
Đây là kết quả của việc lão đạo canh giữ bên cạnh người thợ tượng, điều chỉnh đi đi chỉnh chỉnh suốt hơn mười ngày trời.
Trước tượng thần là bàn thờ bằng gỗ mun, bày lư hương đồng mới tinh, giá nến và bình tịnh, được lau chùi sáng bóng.
Hai bên thiên điện quy mô nhỏ hơn một chút, nhưng mỗi bên cũng là một gian, vật liệu cũng chắc chắn không kém.
Đông thiên điện thờ bức họa Linh Bảo Thiên Tôn, do họa công vẽ tỉ mỉ trên lụa màu. Thiên Tôn ngự trên tòa sen chín màu, sau lưng hào quang rực rỡ, trong mây lành ẩn hiện linh thú tiên cầm, bút pháp tinh tế, màu sắc thanh nhã.
Tây thiên điện thì treo bức họa Đạo Đức Thiên Tôn cưỡi thanh ngưu ra ải Quan Hàm Cốc. Cảnh trong tranh ý cảnh xa xăm, tử khí mênh mang.
Ngoài ra, phía trong Đông thiên điện còn đặt một khám thờ nhỏ, bên trong thờ bài vị của sơn thần thổ địa địa phương, để tỏ lòng tôn kính với một phương thủy thổ, đây cũng là chỗ mà lão đạo kiên trì phải có để "gần gũi với đất".
Phía tây sát vách núi, xây một dãy ba gian phòng, dùng để ở và chứa đồ. Kết cấu nhà cũng vững chắc, cửa sổ sáng sủa sạch sẽ.
Phía sau nhà, dựa theo thế núi, khai phá một mảnh vườn nhỏ, đã gieo một ít hạt giống rau.
Phòng bếp được xây riêng ở góc đông nam của sân, cách xa kiến trúc chính một chút, để phòng hỏa hoạn, cũng giữ cho sân được yên tĩnh.
Toàn bộ đạo quán, tuy không có sự xa hoa trạm trổ, nhưng từ bố cục, vật liệu cho đến công nghệ, chỗ nào cũng thể hiện sự "dụng tâm" và "coi trọng".
Buổi sáng mùa thu, người thợ đồng mang đến những chiếc phong linh đặt làm cho mái hiên điện, treo lên bốn góc. Gió núi thổi qua, phát ra những tiếng leng keng trong trẻo xa xăm, vọng vang trong thung lũng.
Ánh ban mai lờ mờ, sương mù mỏng như khăn voan. Đạo quán mới tinh lặng lẽ đứng sừng sững trên núi Cửu Phụ Kỳ.
Thừa Vụ đứng bên ngoài đạo quán đã được quét dọn sạch sẽ, chắp tay sau lưng, ngước nhìn tấm biển trống treo trên cổng.
Lưng ông thẳng tắp, râu tóc hoa râm nhẹ nhàng lay động trong gió sớm.
Hồ ly nhỏ nhảy lên nóc nhà Tây phòng, phóng tầm mắt nhìn toàn bộ đạo quán.
Bạch Vị Hi không biết từ lúc nào đã đứng bên mấy khóm trúc mới ngoài sơn môn, ánh ban mai phác họa dáng vẻ thanh lãnh của nàng.
Vài ngày sau, một tấm biển mới tinh do hai người thợ cẩn thận khiêng lên núi.
Tấm biển được làm bằng gỗ chương thượng hạng, dài chừng sáu thước, rộng chừng hai thước, thớ gỗ mịn, lộ ra màu vàng nhạt ấm áp tự nhiên.
Trên biển khắc nổi ba chữ lớn "Cửu Phụ Quán", nét chữ gân guốc, bút ý hồn hậu. Chữ được sơn màu đen mực trầm ổn, tương phản với màu gỗ, vừa trang nghiêm lại không lố bịch.
Thừa Vụ nhìn người thợ treo tấm biển vững vàng lên khung cửa sơn môn.
Khi ba chữ "Cửu Phụ Quán" cuối cùng đã ngay ngắn nhìn xuống khoảng sân, ông ngước nhìn rất lâu, môi khẽ mấp máy, cuối cùng chỉ nghiêm trang chắp tay vái chào tấm biển ấy.
