Chương 42: Sau núi.
Đề An trầm ngâm suy nghĩ.
Chẳng lẽ cậu bé Dương Vũ năm đó mới bảy tuổi, một mình từ bên kia ngọn núi, băng qua bãi mìn chằng chịt, vượt suối trèo đèo mà đến được đây sao?
Nó mới có bảy tuổi. Một đứa trẻ bảy tuổi, làm sao có thể đưa ra quyết định vượt biên tìm cha?
Nếu chuyện này khó giải thích quá.
Vậy thì chỉ còn một khả năng.
Có người đã đưa nó đến.
Và người đó, rất có thể chính là kẻ đã gửi cuốn băng ghi hình cuối cùng, đồng bọn của Dương Vũ.
Đề An vội hỏi cô giáo trại trẻ mồ côi: “Trong thời gian Dương Vũ sống ở trại trẻ, có ai đến thăm nó không?”
Cô giáo trại trẻ nói không có.
Đề An lại hỏi, có đứa trẻ mồ côi nào đến cùng thời với Dương Vũ không.
Cô giáo trại trẻ lật cuốn sổ đăng ký cũ kỹ: “Có ạ.
Một ngày sau khi nhận nuôi Tiểu Gá, có một cậu bé mười sáu tuổi cũng được nhận vào.
Tôi nhớ cậu ấy biết tên mình, tên là Tiểu Phan.
Cậu ấy và Tiểu Gá rất thân, thường xuyên chơi với nhau.
À…
Hôm Tiểu Gá mười hai tuổi bỏ trốn, Tiểu Phan cũng trốn theo.”
Đề An chợt hiểu ra.
Cuối cùng anh cũng biết, hơn ba mươi năm trước, một thiếu niên lớn hơn đã dẫn cậu bé Tiểu Gá mười hai tuổi, băng qua bãi mìn hoang vắng rộng lớn.
Vượt sông, trèo núi, vượt qua đường biên giới, trong một đêm tối trời cao gió lớn, họ đã đến được huyện này.
Họ đã đói đến tột cùng, mệt đến kiệt sức.
Không thể tiếp tục tìm kiếm nữa.
Cả hai sợ người trong trại trẻ nhận ra thân phận của mình, nên lần lượt vào trại trẻ.
Khi lớn lên, họ thường lén lút đi dò la tin tức, cho đến khi xác định được ngôi làng Dương Nhị Căn ở.
Tiểu Gá tìm đến cơ quan dân chính, cầu xin họ đưa mình về bên cha.
Đề An bảo Tiêu Minh xin lệnh bắt giữ, đưa đồng nghiệp của người giao hàng Dương Vũ về đồn thẩm vấn.
Qua nhận dạng của nhân viên phòng trực, người giao hàng này chính là người đã giao cuốn băng ghi hình lần cuối cùng.
Trên chuyến tàu cao tốc về Hãn Hưng, Đề An và Diệp Hành Chi nhận được tin tốt từ Âu Dương.
Trong nhà của người giao hàng này đã tìm thấy chiếc máy quay kiểu cũ vai đeo mà Tiểu Lưu đã nói.
Phòng thẩm vấn.
Đề An vào thẳng vấn đề: “Chào anh, Tiểu Phan.”
Người giao hàng liếc nhìn Đề An: “Xem ra các anh đều đã biết cả rồi.
Nhưng tôi không gọi là Tiểu Phan, đó là cái tên tôi bịa ra để vào trại trẻ.
Tôi tên là Thị Hải.
Tuy nhiên, tôi vô tội.
Ngày mai các anh nên thả tôi ra.
Tôi chỉ giúp người ta giao một bưu kiện thôi.”
Đề An hỏi: “Giúp ai?”
Thị Hải nói: “Không phải các anh đều biết rồi sao.”
Đề An nói: “Là Tiểu Gá lúc nhỏ, Dương Vũ lúc lớn, phải không?”
Thị Hải cười: “Đúng vậy.”
“Hai người quen nhau thế nào?”
Thị Hải khịt mũi khinh miệt: “Thì ra các anh cũng có chỗ chưa điều tra ra.
Chúng tôi là anh em, anh em ruột, hiểu không?”
Đề An nói: “Dương Vũ có phải là con của Dương Nhị Căn không?”
Thị Hải nói: “Phải. Vậy nên chúng tôi là anh em cùng mẹ khác cha.”
Đề An hỏi: “Anh hơn Dương Vũ chín tuổi, vậy khi mẹ của Dương Vũ đến lừa gạt, bà ấy đã lập gia đình ở Lửng Mật rồi, đúng không?”
Thị Hải trừng mắt nhìn Đề An: “Mẹ tôi không phải kẻ lừa đảo!
Tôi không cho phép anh nói mẹ tôi như vậy!
Bà ấy là người mẹ tốt nhất trên đời!
Bà ấy không cố ý đến đây lừa gạt đâu.
Bà ấy bị ép buộc.”
Đề An hỏi gấp: “Ai ép?”
Mắt Thị Hải đỏ hoe: “Thằng cha khốn nạn của tôi.
Hắn ta ngày nào cũng không làm gì, chỉ uống rượu.
Say rượu thì đánh mẹ tôi.
Hắn bắt bà ấy giống như những người phụ nữ khác trong làng, theo bà mối sang bên kia núi, kết hôn với đàn ông khác để lừa tiền thách cưới.
Đàn bà trong làng tôi đã quen với cách kiếm tiền này.
Họ chuyên lừa mấy người ở vùng núi hẻo lánh.
Lừa xong là biến mất.
Đổi chỗ khác tiếp tục lừa.
Nếu phong thanh gắt quá, họ sẽ về làng trốn tránh cảnh sát các anh.”
Đề An hỏi: “Vậy Dương Vũ được sinh ra ở làng của anh?”
Thị Hải nói: “Phải. Lúc nó chào đời, tôi ở bên cạnh nó và mẹ tôi.
Chỉ có mình tôi.”
“Tình cảm của anh và Dương Vũ rất tốt?”
“Nó do tôi nuôi lớn. Từ nhỏ nó đã bị cả làng bắt nạt, nếu không có tôi che chở, nó đã bị người ta đập chết rồi.”
Đề An gật đầu nói: “Khó trách nó đã gửi gắm cuốn băng cuối cùng cho anh.
Tại sao nó lại giết người?
Hai người chết có quan hệ gì với hai người?”
Ký ức của Thị Hải quay ngược về quá khứ, đó là khởi đầu của một câu chuyện xa xôi.
“Từ khi tôi còn nhỏ, trong ký ức của tôi, nơi đó rất nghèo.
Chiến tranh liên miên, dịch bệnh, lũ lụt, hạn hán, sâu bọ, khiến những người vốn đã nghèo đến tận xương, xương cốt có thể làm củi đốt, lại càng nghèo hơn.
Các anh có thể không có khái niệm về nghèo.
Tôi nói cho các anh biết, làng tôi có người chết, chỉ vì cảm cúm.
Người xưa đều cam chịu.
Người sau này thì không cam chịu nữa.
Nghèo là vốn liếng.
Nghèo có thể xóa nhòa cảm giác đạo đức khi làm những việc táng tận lương tâm.
Một trong những con đường sống, là một người phụ nữ dẫn những người phụ nữ khác trong làng, sang bên kia núi lừa người ta kết hôn.
Lấy được tiền thách cưới và ăn trộm đồ đạc xong, họ lại đi nơi khác tiếp tục lừa. Mỗi lần đi là hai ba năm.
Khi họ trở về, trên mặt đầy vẻ kiêu hãnh của kẻ chiến thắng khải hoàn, áo gấm về làng.
Đàn bà nhà ai mang về nhiều của cải, đàn ông nhà đó trước mặt người khác ưỡn ngực thẳng lưng.
Mùi thịt từ nhà những người phụ nữ hồi hương làm cho nhà khác thèm thuồng, thèm miệng, thèm lòng, càng thêm thèm.
Tôi thích ăn thịt, nhưng sau này hễ ngửi thấy mùi đó là tôi nôn không ngừng.
Mẹ tôi nhiều lần không chịu đi, vì tôi còn nhỏ.
Cha tôi chứng kiến cảnh đàn bà hồi hương ở đầu làng, về nhà tát mẹ tôi hai cái.
Hắn xách chân tôi lên, tôi bị treo ngược, bên dưới đầu tôi là nồi nước sôi sùng sục bốc hơi nghi ngút.
Hơi nóng còn khủng khiếp hơn lửa gấp trăm lần.
Cả người tôi bị ngọn lửa trắng thiêu đốt.
Tôi gào thét thảm thiết.
Tôi được mẹ ôm nhúng vào nước lạnh.
Tôi thoát khỏi lửa, còn mẹ tôi lại rơi vào lửa.
Sau đó, mẹ tôi lau nước mắt từ biệt tôi, cùng đàn bà trong làng lên đường.
Khi họ trở về, chính là lúc phong thanh gắt gao nhất.
Có lúc tôi sợ mẹ bị bắt.
Có lúc lại mong cảnh sát bên đó giỏi hơn, để họ về rồi không còn cơ hội ra ngoài nữa.
Sau đó mẹ tôi về, tôi thấy trên mặt bà ấy có nụ cười.
Tôi không cho bà ấy mặt mũi, mỉa mai bà ấy không biết xấu hổ.
Bà ấy không giận, đưa cho tôi một viên kẹo.
Bà ấy nói: ‘Trước đây mẹ thực sự không muốn làm cái này.
Chết cũng không muốn.
Sau này mẹ nghĩ thông suốt rồi, chết thì có ích gì, mẹ chết rồi Tiểu Hải của mẹ biết làm sao.
Cứ để mẹ làm mấy chuyện bẩn thỉu này.
Để Tiểu Hải của mẹ được ăn no mặc ấm, đi học biết chữ.
Bước ra khỏi làng, làm một người đàn ông đường hoàng, chính trực.’
Mẹ lại đi.
Lần nào bà ấy cũng đi lúc nửa đêm.
Bà ấy sẽ vá quần áo cho tôi, đặt bên gối, rồi để hai viên kẹo lên trên quần áo.
Mỗi lần bà ấy hôn tôi, tôi đều nhắm mắt giả vờ ngủ.
Không còn khóc lóc hay quậy phá nữa.
Tôi dường như đã lớn.
Tôi biết tất cả những gì bà ấy làm đều vì tôi.”
Thị Hải lau một dòng nước mắt, nước mắt cuồn cuộn chảy theo cổ tay nhỏ giọt xuống bàn thẩm vấn.
