Chương 32: Đồng hành
Cách trận mưa lũ đã hơn một tháng, sau cơn mưa lớn, trời lại như thiêu như đốt ngày ngày. Tiểu Đào đề nghị xuống chân núi xem nước sông lớn đã rút hết chưa, phải đợi nước rút hẳn, đường khô ráo mới có thể đi xa.
Thủy Sinh đi cùng Tiểu Đào, cả hai đeo khăn che mặt, khi mặt trời đã lặn hẳn, núi non chìm trong hoàng hôn, họ đến khu rừng gần đạo quán. Chờ đến lúc không còn ai ra vào đạo quán, Thủy Sinh nắm tay Tiểu Đào. Trên núi khắp nơi là những đống xương trắng, Thủy Sinh mặt tái mét, nắm chặt tay Tiểu Đào đến nỗi cô đau nhói. Đến chân núi, trong khu rừng ven đường, xương trắng phủ đầy bùn chất thành từng đống.
Thủy Sinh không nhịn được, nôn ra cả mật xanh. Tiểu Đào cắn môi, cố nén nước mắt. Con đường dưới chân đã khô cong. Cô kéo tay áo Thủy Sinh, ra hiệu quay về hang đá. Từ chân núi leo lên đạo quán, Tiểu Đào không cho Thủy Sinh đuốc, sợ bọn cướp trong đạo quán phát hiện. Lên dốc, chân Tiểu Đào run lẩy bẩy, trượt chân. Tưởng là cành cây khô, cô nhặt lên định vứt đi thì mới nhận ra đó là một cánh tay xương trắng. Cô cắn chặt môi, bước theo Thủy Sinh, cảm giác như có bàn tay xương trắng đang níu chặt tay mình, nhưng cô không thốt nên lời. Có lẽ sau này cô sẽ phải một mình lên đường, ngay cả Thủy Sinh đang nắm tay cô cũng sẽ không ở bên. Trong đêm tối, núi non tĩnh lặng, lưng áo Tiểu Đào ướt đẫm mồ hôi.
Sau khi xem xét mặt đường chân núi, những ngày sau đó, Thủy Sinh thấy Tiểu Đào thong thả lồng vỏ chăn vải thô vào vỏ chăn bông, vá vài miếng trông không quá lộ. Cô phủ một lớp vải thô màu xám lên chiếc áo bông xanh nhạt, không để lộ chút màu xanh nào, còn vá mấy miếng to ở khuỷu tay. Cô dùng dây vải xám buộc chặt chăn đệm vào tấm vải dầu... Cô đang tiến hành kế hoạch lên đường về phương Bắc.
Thủy Sinh hoảng hốt, cuối cùng cũng hạ quyết tâm. Cậu nói với mẹ rằng mình sẽ đi cùng Tiểu Đào lên phương Bắc. Mẹ cậu trợn mắt, hoảng sợ hỏi: “Nhất định phải đi sao?” Thủy Sinh trịnh trọng gật đầu.
Một khi Thủy Sinh đã quyết, sau bữa sáng, cậu nói ra ý định hai mẹ con sẽ theo Tiểu Đào lên Liêu Đông. Tiểu Đào sững người một lát.
Cô nhìn lão di nương. Nghĩ đến việc lão di nương đã chăm sóc mình chu đáo, cô không nỡ bỏ lại. Cô khẽ nói: “Dì Triệu, chúng ta vào phòng dì nói chuyện được không?”
Lão di nương cảm thấy lòng trống trải, mọi người sắp đi hết, chỉ còn lại một mình bà. Tiểu Đào nhẹ nhàng nắm tay lão di nương: “Dì Triệu, chúng ta ở trên đạo quán. Hồi cháu ra ngoài dò thám, thấy chân núi đã thành sông lớn, chứng tỏ Lăng Châu ta, ngoài những người ở trên đỉnh núi cao như chúng ta, thì ngay cả huyện thành cũng ngập đến nỗi không thấy nóc nhà.” Tiểu Đào dừng lại, thấy lão di nương nhìn mình đầy nghi hoặc. “Ý cháu là, bà lão đó ở Lưu Gia Loan, vị trí thấp, chung quanh không có núi, họ không có chỗ chạy. Họ không thể còn sống được. Dì và cháu, đều là người tự do rồi. (Lão di nương cũng chưa từng qua quan phủ làm hồng khế.) Cháu hy vọng dì sau này có thể sống tốt.”
Lão di nương chưa từng ra ngoài, nghe nói và tận mắt chứng kiến vẫn khác. Bà không ngờ mình cũng là người tự do, không còn ai nắm thóp được mình nữa, mà bà còn chưa đến bốn mươi. Lão di nương nhìn ánh mắt đầy hy vọng của Tiểu Đào, dò hỏi: “Thật sao?” Tiểu Đào khẽ cười, gật đầu.
Mọi người nhanh chóng sắp xếp. Tiểu Đào nấu một nồi nước vỏ quả dành dành đặc, bảo mọi người tắm rửa sạch sẽ. Ngay cả Thủy Sinh ở trong hang cũng trắng trẻo ra, cứ thế này mà ra ngoài thì quá nguy hiểm.
Mẹ Thủy Sinh và lão di nương may mấy bộ quần áo vải thô, đều có vá. Họ rang bột mì, thêm muối, may túi vải bông hai lớp giặt sạch để đựng. Bao tải đựng lương thực, họ may hai cái thành một, trong một lớp ngoài một lớp, đựng gạo. Lại dùng vải bông mịn may hơn chục cái khăn quàng, mặt ngoài dán một lớp vải thô xám cho kín đáo, lúc đi sẽ che miệng mũi. Khăn trùm đầu đương nhiên là vải vá chắp. Nhưng nhà dột còn đồ, của đi thay người, nồi niêu dao thớt nhất định phải mang, thậm chí dao thái, cuốc xẻng cũng phải mang theo, trên đường chúng cũng là vũ khí. Nhưng lương thực của họ chỉ có vài trăm cân, dựa vào người khiêng thì không được, cần một cái xe đẩy. Còn nước ngoài kia không thể uống, có thể lây dịch bệnh.
Thủy Sinh tìm đồ nghề mộc của cha, nhờ mẹ phụ giúp. Dưới sự chỉ dẫn của mẹ, cậu lấy gỗ ván giường ra, mất hai ngày làm một cái xe đẩy thô sơ nhưng chắc chắn. Thử trong hang thấy dùng được, Thủy Sinh liền tháo xe ra. Tiểu Đào cùng cậu khiêng xuống giấu trong rừng dưới núi, lúc đi sẽ lắp lại.
Trước khi lên đường, mẹ Thủy Sinh và Tiểu Đào hấp bốn nồi bánh bao, bỏ vào túi vải bông, rồi lại bỏ túi vải bông vào gói vải vá. Trời đã bớt nóng, để được bảy tám ngày không vấn đề.
Tiểu Đào chất đầy bốn gùi lương thực, trên cùng phủ quần áo vá, rồi lấy chăn đệm cuộn chặt buộc lên mặt gùi. Mặt chăn cũng được phủ một tấm vải vá lớn kiếm từ nha hàng, vừa tránh bụi vừa làm người ta tưởng là nhà nghèo. Một cái thùng đựng nồi niêu bát đĩa, một cái đựng dao thớt. Trong gói của Tiểu Đào có hai con dao chặt củi, hai con dao thái. Cuốc của nhà Thủy Sinh cũng mang theo. Hai cái nồi nấu cháo và hai thùng gỗ đựng nước, tất cả đều đổ đầy nước đun sôi để nguội. Tiểu Đào tính toán phải uống hơn chục ngày mới hết.
Mọi thứ đã chuẩn bị xong, chiều tối ngày mười chín tháng tám, mọi người đều mặc quần áo vải gai thô vá chằng vá đụp, da vàng sạm, chuẩn bị lên đường đi Liêu Đông.
Họ dùng dây thừng hạ lương thực xuống ngoài hang. Mẹ con Thủy Sinh không cho Tiểu Đào vác lương, dĩ nhiên cô cũng vác không nổi, một gùi cộng chăn đệm phải cả trăm cân. Thủy Sinh và mẹ cậu chống gậy, lợi dụng bóng tối vác xuống khu rừng ở ngã rẽ đạo quán, rồi lại vác xuống núi. Tiểu Đào ở khu rừng cạnh đạo quán, xé nát bộ quần áo gấm của lão di nương, vứt bên một đống xương trắng giống phụ nữ cô từng thấy. Cô đeo gói đồ, nồi niêu, v.v.
Lão di nương không muốn mình và Tiểu Đào làm gánh nặng cho mẹ con Thủy Sinh, cắn răng chống gậy, dùng bao tải vác bảy tám chục cân bột sắn dây xuống núi. Mọi người chạy đi chạy lại mấy chuyến, đến tận trời hửng sáng mới vác hết đồ.
Thủy Sinh lắp lại xe đẩy, dùng dây thừng buộc chặt mọi thứ lên xe. Mẹ Thủy Sinh và lão di nương nhờ ánh sáng ban mai thấy bùn trên đường đã khô nứt thành từng mảng như mai rùa, dưới những mảng bùn đó là xương trắng chất đống, thỉnh thoảng lại có một cái đầu lâu đầy bùn nhô lên. Lão di nương chỉ muốn ngất đi. Tiểu Đào nhắc mẹ Thủy Sinh và lão di nương cố nhịn, đừng lên tiếng, đừng kinh động bọn cướp trong đạo quán. Mẹ Thủy Sinh chân run cầm cập, chỉ biết bám vào xe đẩy, cùng lão di nương nôn ra mật xanh suốt dọc đường.
(Nhiều độc giả thắc mắc tại sao Tiểu Đào có tiền mà không mua vài mẫu ruộng quanh huyện thành? Hoặc tại sao cô không đến chỗ tốt mà lại đến nơi lưu đày? Có lẽ nhiều bạn đọc net thường thấy, nghĩ có tiền là muốn đi đâu thì đi. Chúng ta hãy tìm hiểu chế độ hộ tịch hà khắc thời cổ. Thời xưa, trước hết có chế độ bảo giáp địa phương. Dân thường muốn xin lộ dẫn phải qua nhiều cấp báo cáo. Không có lộ dẫn mà đi lung tung sẽ bị bắt phạt, thậm chí có lộ dẫn rồi mà mạo dùng lộ dẫn của người nhà cũng bị phạt. Trên lộ dẫn còn ghi rõ gia súc mang theo, điểm đến, v.v. Có thể tưởng tượng hà khắc thế nào. Lộ dẫn của thương nhân đi xa còn phải ghi chú đặc biệt về lộ trình. Người thực sự có thể tự do đi lại là tú tài hoặc quan viên. Những danh nhân chúng ta thấy ngao du sơn thủy, đằng sau họ là thân phận quan gia, tương đương với công văn thông quan. Càng không có chuyện người ở chỗ tốt mạo hiểm bị phạt tội liên đới để nhập hộ tịch cho bạn. Dân thường muốn có một thân phận chỉ có thể dựa vào loạn lạc do thiên tai, hoặc chiến loạn, hoặc cuối triều đại chính quyền quản lý lỏng lẻo. Nơi lưu đày vì dân cư thưa thớt, quốc gia muốn tăng dân số nên mới có thể liều một phen có thân phận. Thân phận của Tiểu Đào và lão di nương chỉ có thể là chủ nhà hoặc nhà cha mẹ Tiểu Đào. Vì vậy lúc đầu cô được tự do, cảm thấy trời đất bao la không đường đi. Đến khi thây nằm đói khắp nơi mới thấy đó là cơ hội để lên Liêu Đông liều một thân phận. Lại nói về Liêu Đông, từ xưa vẫn là trọng địa quân sự quan trọng của quốc gia. Một phần Liêu Đông gần Sơn Đông ngày nay, cách kinh thành cũng không quá xa. Càng không phải nơi khổ hàn xa xôi như mọi người tưởng tượng.)
