Liên hệ:[email protected]
fZalo

Tất cả nội dung truyện chữ và truyện audio trên website được tổng hợp từ nhiều nguồn công cộng hoặc do người dùng tải lên. Chúng tôi không sở hữu bản quyền, không chỉnh sửa nội dung và không chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào liên quan đến bản quyền, tính chính xác hay quan điểm trong tác phẩm. Nếu bạn là chủ bản quyền và phát hiện nội dung vi phạm, vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi qua email để kiểm tra và gỡ bỏ trong thời gian sớm nhất. Người dùng tự chịu trách nhiệm toàn bộ khi sử dụng nội dung trên website. Chúng tôi không khuyến khích sao chép, phát tán trái phép và khuyến nghị mọi người tôn trọng quyền tác giả.

Biển Truyện
Trang chủThể loạiBảng xếp hạngHoàn thànhBảng vàng
💎XuKiếmtiền
Một Bức Ảnh, Một Mối Tình > Chương 10

Chương 10

Font
Cỡ chữ18
Nền
Rộng760px
← TrướcMục lụcSau →

Chương 10: Cầu Phật Chi Bằng Cầu Tôi

 

Sáng thứ Bảy, An Dĩ Thư dậy rất sớm.

 

Cô cũng không hiểu tại sao – bình thường cuối tuần cô toàn ngủ đến hơn chín giờ, vậy mà hôm nay bảy rưỡi đã tỉnh, và sau khi tỉnh dậy thì tinh thần phấn chấn, hoàn toàn không có ham muốn nằm nướng. Cô trở mình trên giường, cầm điện thoại lên nhìn một cái, không có tin nhắn mới. Cô đặt điện thoại xuống, lại trở mình, lại cầm lên, lại nhìn một cái.

 

Vẫn không có.

 

An Dĩ Thư úp điện thoại xuống cạnh gối, nhìn chằm chằm lên trần nhà ba giây, rồi nhỏ giọng tự nhủ: “An Dĩ Thư, cậu có thể bình thường một chút được không?”

 

Cô đi tắm, sấy tóc, đứng trước tủ quần áo ngẩn người một hồi lâu. Khi đến Bắc Kinh cô mang theo khá nhiều quần áo, nhưng lúc này nhìn đầy tủ áo len và áo khoác dài, bỗng nhiên thấy cái nào cũng không ổn. Cái này dày quá, cái kia màu tối quá, cái này làm cổ ngắn, cái kia lần trước mặc rồi không muốn mặc lại.

 

Cuối cùng cô chọn một chiếc áo len cổ lọ màu xanh lam mờ, phối với quần ống rộng màu trắng sữa, bên ngoài khoác chiếc áo lông vũ dài màu trắng. Cô xoay hai vòng trước gương, thấy tạm ổn, lại sấy tóc một lần nữa, để đuôi tóc tự nhiên uốn nhẹ, rồi từ túi mỹ phẩm lôi ra một cây son hồng nhạt thoa lên.

 

Thoa xong, cô nhìn mình trong gương, bỗng nhiên bật cười.

 

An Dĩ Thư cầm điện thoại, nhắn cho Thẩm Nghiêm Kinh một tin: “Tôi chuẩn bị ra ngoài rồi, gặp ở cửa Ung Hòa Cung nhé?”

 

Thẩm Nghiêm Kinh gần như trả lời ngay lập tức: “Anh đến đón em.”

 

Không phải “được”, không phải “ừ”, không phải “gặp sau”, mà là “anh đến đón em”.

 

An Dĩ Thư nhìn bốn chữ này, tai lại nóng lên. Cô báo địa chỉ khu chung cư, rồi đeo một cái túi vải lên vai, ra khỏi cửa.

 

Đứng ở cổng khu chưa đầy năm phút, chiếc SUV màu đen đã xuất hiện ở góc phố. Xe dừng trước mặt cô, cửa sổ hàng ghế sau hạ xuống, Thẩm Nghiêm Kinh ngồi bên trong. Hôm nay anh mặc một chiếc áo khoác ngắn màu đen, bên trong là áo len cashmere màu xám đậm, cổ áo hở ra một chút xương quai xanh, cả người trông có vẻ tùy ý hơn ngày thường, nhưng khí chất cao quý trong xương cốt chẳng hề giảm bớt.

 

“Lên xe đi.” Anh nói.

 

An Dĩ Thư kéo cửa xe ngồi vào, mang theo một luồng gió lạnh và mùi bột giặt thoang thoảng. Cô tháo găng tay ra, xoa xoa tay, hà một hơi trắng, nói: “Hôm nay hình như còn lạnh hơn hôm qua.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh liếc nhìn cô, ánh mắt dừng lại trên môi cô một khoảnh khắc.

 

Hôm nay cô thoa son. Màu rất nhạt, như hoa anh đào mới nở mùa xuân, tôn lên làn da trắng hơn. Tóc cô cũng bồng bềnh hơn hôm qua, đuôi tóc hơi uốn nhẹ, khẽ đung đưa theo động tác quay đầu.

 

“Ừ.” Thẩm Nghiêm Kinh thu lại ánh mắt, nói với tài xế, “Đi thôi.”

 

Xe chạy về phía Ung Hòa Cung. An Dĩ Thư dựa vào ghế, nghiêng đầu nhìn ra ngoài cửa sổ. Sáng thứ Bảy ở Bắc Kinh, xe cộ thưa hơn ngày thường một chút, nắng rất đẹp, ánh sáng vàng óng xuyên qua hàng cây ven đường, đổ lên cửa kính xe từng mảng bóng râm loang lổ.

 

“Anh ăn sáng chưa?” An Dĩ Thư bỗng hỏi.

 

“Chưa.”

 

“Tôi cũng chưa,” An Dĩ Thư từ túi vải móc ra hai cái cơm nắm, là cô mua ở cửa hàng tiện lợi, vẫn còn dán giá, “Tôi mua hai cái, một cái cá ngừ, một cái gà, anh lấy cái nào?”

 

Thẩm Nghiêm Kinh cúi đầu nhìn cơm nắm trong tay cô, lại nhìn vẻ mặt nghiêm túc của cô.

 

“Cá ngừ.” Anh nói.

 

An Dĩ Thư đưa cơm nắm cá ngừ cho anh, tự mình xé cái gà ra, cắn một miếng lớn, má phồng lên, nhai mấy cái, lè nhè nói: “Tôi nói anh biết, cơm nắm ở cửa hàng tiện lợi Bắc Kinh đắt hơn Thâm Thành, cùng một loại, Thâm Thành bán năm tệ rưỡi, Bắc Kinh bán bảy tệ, chênh lệch gần hai tệ.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh cầm cơm nắm, không ăn, nhìn cô đứng đắn tính toán chênh lệch hai tệ, khóe miệng hơi cong lên.

 

“Ở Thâm Thành em hay ăn cửa hàng tiện lợi lắm à?” Anh hỏi.

 

“Lúc tăng ca thì ăn,” An Dĩ Thư nuốt miếng cơm nắm trong miệng, nói, “Dưới nhà xuất bản của tôi có một tiệm FamilyMart, mỗi tuần tôi đến ít nhất ba lần. Lâm Vãn – đồng nghiệp của tôi, cô ấy nói tôi sắp ăn đến mức thành cổ đông của cửa hàng tiện lợi rồi.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhìn dáng vẻ cô nói chuyện, cúi đầu, cắn một miếng cơm nắm. Nhân cá ngừ, vị bình thường, nhưng anh cảm thấy mình có lẽ sẽ nhớ mùi vị này rất lâu.

 

Xe đỗ ở gần Ung Hòa Cung, hai người xuống xe, đi dọc theo đại lộ Ung Hòa Cung về phía nam. Cổng Ung Hòa Cung ở phía đông đường, ngói xám tường đỏ, trước cổng đã xếp thành hàng dài – cuối tuần đến thắp hương không ít người, phần lớn là người trẻ, tay cầm vé và điện thoại, tụ tập từng nhóm đứng nói chuyện trước cổng.

 

An Dĩ Thư đứng trong hàng, kiễng chân lên nhìn vào bên trong, quay đầu nói với Thẩm Nghiêm Kinh: “Anh từng đến Ung Hòa Cung chưa?”

 

“Rồi.”

 

“Đến làm gì?”

 

Thẩm Nghiêm Kinh nghĩ một lát, nói: “Đi cùng mẹ. Mỗi năm mùng một Tết bà đều đến thắp nén hương đầu tiên, dậy rất sớm, cả nhà đều phải dậy.”

 

An Dĩ Thư tưởng tượng ra cảnh đó – Thẩm Nghiêm Kinh vào sáng mùng một Tết bị Kim nữ sĩ lôi từ trong chăn ra, mặc áo khoác dày, mắt còn lờ đờ đứng xếp hàng trước cổng Ung Hòa Cung, không nhịn được bật cười.

 

“Anh không tin Phật à?” Cô hỏi.

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhìn cô, không trực tiếp trả lời câu hỏi này, mà nói một câu mơ hồ: “Tùy tình hình.”

 

An Dĩ Thư không hiểu, nhưng cũng không hỏi thêm. Hàng người tiến lên vài bước, cô đi theo, vừa đi vừa nói: “Thực ra tôi cũng không hẳn là tin, chỉ nghĩ đã đến rồi thì lạy một lạy cũng chẳng có hại gì. Mẹ tôi tin Phật, trong nhà thờ Quan Âm, ngày lễ Tết đều thắp hương, tôi từ nhỏ đã theo bà lạy, lạy thành quen rồi.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh nghe cô nói, để ý đến cách dùng từ của cô – “lạy thành quen rồi”. Ba chữ này có một thứ rất mộc mạc, không phải lòng thành kính, không phải mê tín, mà là một thứ nghi thức đã thấm vào xương tủy từ nhỏ.

 

Qua cửa an ninh, bước vào cổng Ung Hòa Cung, tầm nhìn bỗng nhiên rộng mở. Kiến trúc Ung Hòa Cung là bố cục chuẩn của chùa hoàng gia thời Thanh, ngói vàng tường đỏ, mái cong đấu củng, dưới ánh nắng mùa đông trông trang nghiêm và uy nghi. Mấy cây hòe già trong sân trơ trụi lá, cành vươn lên bầu trời xám xanh, như một bức tranh công bút. Xa xa, lầu chuông và lầu trống lặng lẽ đứng đó, thỉnh thoảng có một đàn bồ câu bay qua mái nhà, tiếng còi bồ câu vọng lại trong không khí lạnh lẽo.

 

An Dĩ Thư từ túi vải lấy ra một phong bì, bên trong là tiền lẻ cô chuẩn bị trước khi đến. Cô bước đến lư hương đầu tiên, bỏ một ít vào hòm công đức, rồi từ giá bên cạnh lấy ba nén hương, châm trên ngọn nến, hai tay nâng hương, hướng về phía đại điện, cúi ba lạy thật thành kính.

 

Thẩm Nghiêm Kinh đứng sau cô vài bước, nhìn cô.

 

Lúc cô cắm hương vào lư, động tác rất nhẹ rất chậm, như đang làm một việc rất trọng đại. Cắm xong, cô lùi một bước, chắp tay, nhắm mắt, môi khẽ mấp máy vài cái, rồi cúi gập người thật sâu.

 

Toàn bộ quá trình, cô không nhìn điện thoại, không ngó nghiêng, không có bất kỳ động tác thừa nào. Cô chỉ lặng lẽ đứng đó, chắp tay, nhắm mắt, giống như vô số người đến cầu nguyện suốt mấy trăm năm trong ngôi chùa này, chuyên chú và thành kính.

 

Thẩm Nghiêm Kinh bỗng nhiên thấy, dáng cô lạy Phật rất đẹp.

 

Không phải kiểu đẹp “chụp ảnh đẹp”, mà là một kiểu đẹp khiến lòng người lặng yên. Cô đứng đó, như một cây cây lặng lẽ, được ánh nắng mùa đông bao phủ, cả người tỏa ra một thứ ánh sáng dịu dàng và ấm áp.

 

An Dĩ Thư lạy xong, mở mắt, quay đầu tìm Thẩm Nghiêm Kinh, phát hiện anh đang nhìn mình, ánh mắt rất sâu, rất nặng, khác với mọi khi.

 

“Anh nhìn tôi làm gì?” Cô đi lại, hơi ngượng ngùng sờ mặt mình, “Mặt tôi có gì à?”

 

“Không có,” Thẩm Nghiêm Kinh thu lại ánh mắt, giọng điệu bình thản, “Lạy xong rồi?”

 

“Ừ, đi thôi, sang điện tiếp theo.”

 

An Dĩ Thư đi trước, Thẩm Nghiêm Kinh theo sau. Mỗi khi đến một điện, cô đều dừng lại, thắp hương, cúi chào, chắp tay, nhắm mắt khấn nguyện. Ung Hòa Cung từ nam lên bắc có tổng cộng năm tầng sân, lớn nhỏ hơn chục điện, cô không bỏ sót một cái nào, thành kính như một tín đồ đến tạ ơn.

 

Thẩm Nghiêm Kinh suốt quãng đường không lạy.

 

Anh chỉ đứng sau cô, nhìn cô lạy.

 

Đến sân cuối cùng, An Dĩ Thư quỳ trên bồ đoàn trước Vạn Phúc Các, hướng về pho tượng Phật Di Lặc bằng gỗ đàn hương cao lớn, cung kính dập đầu ba cái. Tư thế quỳ trên bồ đoàn của cô rất chuẩn – chắp tay, đầu ngón tay chạm vào chân mày, lưng thẳng tắp, nhắm mắt, môi khẽ động.

 

Thẩm Nghiêm Kinh đứng chếch phía sau cô, nhìn những sợi tóc rủ xuống và gương mặt nghiêng được ánh nắng mạ vàng.

 

Cô đứng dậy, phủi bụi trên đầu gối, quay người lại, đối diện với ánh mắt Thẩm Nghiêm Kinh, cười một cái: “Xong rồi, lạy xong rồi.”

 

“Cầu gì thế?” Thẩm Nghiêm Kinh hỏi.

 

An Dĩ Thư chớp chớp mắt, nghiêng đầu nghĩ một lát, rồi lắc đầu: “Không thể nói, nói ra là không linh nữa.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhìn vào mắt cô, đôi mắt ấy phản chiếu ánh nắng buổi chiều mùa đông và bóng mái cong của Vạn Phúc Các, sáng như vỡ tan cả một dải ngân hà.

 

Anh không hỏi nữa.

 

Nhưng trong lòng anh nghĩ một câu.

 

Cầu Phật, chi bằng cầu tôi.

 

Ý nghĩ này vụt lên, chính Thẩm Nghiêm Kinh cũng thấy hơi quá đáng. Nhưng anh không dập tắt nó, mà để nó lặng lẽ nằm đó, như một hạt mầm chôn trong đất, chờ ngày nào đó nảy mầm.

 

An Dĩ Thư không biết trong lòng anh nghĩ gì, phủi phủi tay, nói: “Đi thôi, anh chẳng phải nói gần đây có quán lẩu ngon à? Tôi đói rồi.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh đưa cô đến quán lẩu trong một con hẻm gần Ung Hòa Cung, mặt tiền không lớn, nhưng khách rất đông, xếp hàng đợi hơn hai mươi phút mới có chỗ. Nồi đồng than hồng, nước lèo thanh, thịt cừu thái tươi, tương mè hoa hẹ, An Dĩ Thư ăn hăng say, đầu mũi đều lấm tấm mồ hôi.

 

“Quán này còn ngon hơn quán lần trước,” An Dĩ Thư gắp một đũa thịt cừu, lăn qua lăn lại trong tương mè, nhét vào miệng, hài lòng nheo mắt, “Sao anh biết nhiều quán ngon thế?”

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhìn gò má cô hơi ửng hồng vì hơi nóng, nói: “Lớn lên ở Bắc Kinh, ít nhất cũng phải biết vài quán ăn được.”

 

“Đây không phải ‘ăn được’, đây là ‘ngon’,” An Dĩ Thư sửa lại, lại gắp một đũa thịt cừu, “Anh biết không, Thâm Thành cũng có nhiều món ngon, lần sau anh xuống Thâm Thành, tôi dẫn anh đi ăn.”

 

Đũa của Thẩm Nghiêm Kinh khựng lại một chút.

 

“Lần sau anh xuống Thâm Thành” – giọng cô nói câu này rất tự nhiên, tự nhiên đến mức như thể anh đã đồng ý sẽ xuống Thâm Thành vậy.

 

“Được.” Thẩm Nghiêm Kinh nói.

 

Ăn xong ra ngoài, đã hơn ba giờ chiều. Nắng bắt đầu ngả về tây, ánh vàng xiên xiên rải lên gạch xanh ngói xám của con hẻm, nhuộm cả con hẻm thành một bức tranh sơn dầu tông ấm. An Dĩ Thư ăn no uống đủ, tâm trạng rất tốt, bước chân nhẹ nhàng như đang nhảy múa, vạt áo lông vũ khẽ đung đưa theo nhịp bước.

 

Cô đi trước Thẩm Nghiêm Kinh nửa bước, vừa đi vừa nói, toàn chuyện linh tinh – thịt cừu hôm nay mềm quá, tượng Phật Di Lặc to thế, bồ câu ở Ung Hòa Cung sao nuôi béo vậy, cô từng nuôi một con mèo ở Thâm Thành nhưng sau đó cho người vì phải đi công tác không có thời gian chăm.

 

Thẩm Nghiêm Kinh nghe, thỉnh thoảng đáp lại một câu, phần lớn thời gian chỉ lặng lẽ lắng nghe.

 

Anh phát hiện cô có một thói quen khi nói – khi nói đến chuyện vui, tốc độ nói sẽ nhanh hơn, như một dòng suối nhỏ vui vẻ lao xuống từ sườn đồi; khi nói đến chuyện không vui, tốc độ nói sẽ chậm lại, giọng nhỏ đi, như dòng suối chảy qua một bãi sông phẳng lặng. Cô không cố ý che giấu cảm xúc của mình, nhưng cũng không phóng đại cảm xúc, cô chỉ rất tự nhiên, không tô vẽ, thể hiện cảm nhận hiện tại.

 

Sự tự nhiên ấy, khiến Thẩm Nghiêm Kinh thấy rất quý giá.

 

Trong giới của anh, hầu như không ai là “tự nhiên”. Ai cũng đeo mặt nạ, mỗi câu nói đều được cân nhắc, mỗi biểu cảm đều phục vụ cho một mục đích nào đó. Anh đã quen với môi trường này, thậm chí bản thân cũng là một phần trong đó. Nhưng An Dĩ Thư thì khác, cô như một cơn gió thổi từ phương Nam, mang theo hơi nước và mùi nắng, không phòng bị, không giả tạo, thế nào là thế ấy.

 

Trên đường xe đưa cô về khu chung cư, An Dĩ Thư nói nhiều hơn.

 

Có lẽ vì nắng hôm nay quá đẹp, có lẽ vì lẩu ăn quá thỏa mãn, có lẽ vì sau khi lạy một vòng trong chùa lòng cô đặc biệt bình yên, cô như một con chim nhỏ được thả ra khỏi lồng, ríu rít nói không ngừng.

 

“Thẩm Nghiêm Kinh, tôi nói anh biết, hôm nay tôi lạy ở Ung Hòa Cung, bên cạnh có một anh chàng rất buồn cười, trước khi lạy anh ta lôi điện thoại ra chụp một kiểu tự sướng, lạy xong lại lôi điện thoại ra đăng một vòng bạn bè, cả quá trình không hề nhắm mắt, anh bảo anh ta lạy kiểu Phật gì thế?”

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhìn cô vừa nói vừa diễn lại dáng vẻ anh chàng đó, khóe miệng cong lên không kìm được.

 

“Còn nữa,” An Dĩ Thư quay người đối diện với anh, một tay vịn lưng ghế, cả người ngồi nghiêng, tư thế tùy ý và thoải mái, “Anh để ý không, cái lư hương trước cửa đại điện Ung Hòa Cung, nhiều người ném tiền xu vào, tôi cũng muốn ném, nhưng lục khắp túi không tìm thấy đồng xu nào, cuối cùng đành bỏ một tờ năm tệ vào. Tôi nghĩ chắc Phật không vui lắm, tờ năm tệ với đồng xu trông cũng chẳng giống nhau, Phật có nghĩ tôi đang qua loa với Ngài không?”

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhìn vẻ mặt lo lắng đứng đắn của cô sợ Phật không vui, cuối cùng không nhịn được, khẽ bật cười.

 

Đó không phải nụ cười lạnh lùng, kiềm chế, hờ hững thường thấy của anh, mà là một nụ cười thật sự, có hơi ấm, có ánh sáng trong mắt.

 

An Dĩ Thư sững người.

 

Cô không phải chưa từng thấy Thẩm Nghiêm Kinh cười. Trước đây anh cũng cười, nhưng kiểu cười đó giống một biểu cảm hơn, là một sự sắp xếp nào đó của cơ mặt, là phép lịch sự và kiềm chế trong giao tiếp xã hội. Nhưng lần này khác, lần này nụ cười của anh bắt đầu từ đôi mắt, rồi lan đến khóe miệng, rồi lan ra cả khuôn mặt, như một dòng nước ấm bỗng trào lên từ dưới lớp băng, tan chảy mọi giá lạnh.

 

“Anh cười lên cũng đẹp đấy.” An Dĩ Thư thốt ra.

 

Nói xong cô mới ý thức được câu này đường đột thế nào, tai đỏ bừng, vội vàng quay người lại, hướng về phía trước, giả vờ ngắm phong cảnh ngoài cửa sổ.

 

Trong xe im lặng hai giây.

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhìn vành tai đỏ ửng của cô, nụ cười ấy không hề tắt, mà còn rạng rỡ hơn.

 

“Cảm ơn.” Anh nói.

 

An Dĩ Thư không dám quay đầu, nhưng tai cô càng đỏ hơn.

 

Đúng lúc đó, điện thoại Thẩm Nghiêm Kinh rung lên.

 

Anh cầm lên xem, là Hà Húc.

 

Anh bắt máy.

 

“Nghiêm Kinh, đang làm gì thế? Tối nay đến câu lạc bộ, chỗ cũ, Lục Minh mang mấy người bạn mới đến, bảo là dân nghệ thuật, khá thú vị. Trình Việt cũng ở đây, lần trước anh chẳng bảo muốn gặp một nhà đầu tư nào đó à? Người ta cũng đến rồi.”

 

Giọng Hà Húc rất to, to đến mức An Dĩ Thư ngồi bên cạnh cũng mơ hồ nghe thấy.

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhìn An Dĩ Thư, nói với đầu dây bên kia: “Tính sau.”

 

“Tính sau gì, người ta đến đủ cả rồi, đợi anh đấy,” Hà Húc la oang oang bên kia, “Hôm nay anh có việc gì đâu, đến đi.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh định cúp máy, thì An Dĩ Thư bỗng quay đầu lại, nhỏ giọng nói một câu: “Anh đi đi, không cần đưa tôi tới tận cửa đâu, thả tôi ở ngã tư phía trước là được, tôi đi bộ về.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhìn cô, không nhúc nhích.

 

Đầu dây bên kia Hà Húc vẫn la: “Này? Này? Anh nghe thấy không? Có đến không? Nói một câu chắc chắn đi.”

 

“Đến muộn.” Thẩm Nghiêm Kinh nói một câu vào điện thoại, rồi cúp máy.

 

Anh nói với tài xế: “Đưa cô ấy về tới nhà trước.”

 

An Dĩ Thư mở miệng định nói gì, nhưng thấy vẻ mặt của Thẩm Nghiêm Kinh, lại nuốt lời vào. Vẻ mặt của anh không phải kiểu khách sáo, lịch sự “tôi nhất định phải đưa em về”, mà là một vẻ không cho phép nghi ngờ, hiển nhiên “đây là việc nên làm”. Cô không từ chối nữa.

 

Xe dừng trước cổng khu chung cư, An Dĩ Thư cầm túi vải và khăn quàng cổ, trước khi đẩy cửa xe, quay đầu nói với Thẩm Nghiêm Kinh một câu: “Hôm nay rất vui, cảm ơn anh.”

 

“Anh cũng vậy.” Thẩm Nghiêm Kinh nói.

 

An Dĩ Thư xuống xe, đóng cửa lại, đi được hai bước, lại quay đầu, vẫy tay về phía cửa kính xe, cười một cái, rồi quay người bước vào cổng khu chung cư.

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhìn bóng cô khuất sau cánh cổng, im lặng hai giây, rồi nói với tài xế: “Đến câu lạc bộ.”

 

Xe quay đầu, lao vào màn hoàng hôn của Bắc Kinh.

 

Thẩm Nghiêm Kinh dựa vào ghế, nhắm mắt, khóe miệng vẫn giữ nguyên độ cong chưa kịp tắt.

 

Đầu óc anh toàn là hình ảnh của cô hôm nay – bóng lưng cô quỳ trên bồ đoàn thành kính chắp tay, gò má cô hơi ửng hồng vì hơi nóng, vẻ mặt cô lúc bắt chước anh chàng kia lạy Phật, vành tai đỏ ửng khi cô nói “anh cười lên cũng đẹp đấy”.

 

Và điều ước cô đã khấn.

 

Cầu Phật, chi bằng cầu tôi.

 

Thẩm Nghiêm Kinh mở mắt, cầm điện thoại lên, mở khung chat với An Dĩ Thư, nhìn vài giây, rồi khóa màn hình, bỏ điện thoại vào túi.

 

Không vội.

 

Anh có nhiều thời gian.

 

Khi xe dừng trước cửa câu lạc bộ, trời đã tối hẳn. Lúc Thẩm Nghiêm Kinh đẩy cửa bước vào, trong phòng riêng đã náo nhiệt.

 

Hà Húc, Lục Minh, Trình Việt, Tống Dã đều có mặt, cùng vài gương mặt lạ, trong đó có một người đàn ông mặc áo len cổ lọ đen, tóc dài nửa vai, có lẽ là “dân nghệ thuật” mà Hà Húc nói. Trên bàn trà bày vài chai whisky và mấy món ăn nhỏ tinh xảo, có người đánh bài, có người tán gẫu, góc phòng có người gảy đàn guitar, giai điệu lười nhác.

 

Hà Húc là người đầu tiên thấy Thẩm Nghiêm Kinh bước vào, giơ ly rượu lên, lớn tiếng chào: “Đến rồi đến rồi! Thẩm Tam thiếu đại giá quang lâm!”

 

Thẩm Nghiêm Kinh không thèm để ý, cởi áo khoác tiện tay vắt lên tay ghế sofa, ngồi xuống chiếc ghế sofa đơn ở góc phòng.

 

Hà Húc bưng ly rượu lại gần, nhìn anh từ trên xuống dưới, lông mày nhướng lên.

 

“Hôm nay anh không bình thường,” Hà Húc nói, “Cái nụ cười trên mặt anh là sao thế? Từ lúc vào cửa đến giờ chưa tắt.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh cầm chai whisky trên bàn trà, tự rót cho mình một ly, uống một ngụm, không nói gì.

 

“Có phải đi gặp cô gái đó không?” Hà Húc hạ giọng, mắt đầy tia bát quái, “Cô lần trước anh nói, từ Thâm Thành đến, An gì Thư ấy?”

 

Thẩm Nghiêm Kinh nghiêng đầu nhìn Hà Húc, trong ánh mắt đó không có sự phủ nhận.

 

Hà Húc hít một hơi lạnh, cả người ngả ra sau, dựa vào lưng ghế sofa, dùng vẻ mặt “tôi biết ngay mà” nhìn Thẩm Nghiêm Kinh.

 

“Tôi bảo rồi, anh sắp phát điên rồi,” Hà Húc chỉ vào Thẩm Nghiêm Kinh, “Anh Thẩm Nghiêm Kinh cũng có ngày hôm nay.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh nâng ly, lại uống một ngụm, vẫn không nói gì.

 

Nhưng khóe miệng anh, vẫn giữ nguyên độ cong ấy.

 

Trình Việt ngẩng đầu từ bàn bài, thấy Thẩm Nghiêm Kinh dựa trên ghế sofa, huýt sáo một tiếng: “Ôi, Thẩm Tam thiếu hôm nay tâm trạng tốt nhỉ, có chuyện gì vui à?”

 

“Anh ấy đâu phải tâm trạng tốt,” Hà Húc chen vào, cười đầy ẩn ý, “Anh ấy bị trúng độc rồi.”

 

“Độc gì?” Lục Minh đẩy gọng kính.

 

“Độc tương tư.” Hà Húc nói.

 

Phòng riêng im lặng một khoảnh khắc, rồi bùng lên một trận cười. Tống Dã cười khoa trương nhất, điếu xì gà trong tay suýt rơi xuống quần.

 

Thẩm Nghiêm Kinh không cười, nhưng cũng không phản bác.

 

Anh dựa vào ghế sofa, cởi bỏ cổ áo len cashmere bên trong áo khoác – mặc dù cổ áo vốn chẳng chật, nhưng động tác này giống như một thói quen, một bản năng muốn hít thở. Một tay anh đặt trên tay vịn ghế sofa, tay kia cầm ly whisky, chất lỏng màu hổ phách chảy chậm rãi trên thành ly, phản chiếu ánh đèn mờ trên đầu.

 

Cả người anh chìm trong ghế sofa, tư thế lỏng lẻo đến tột cùng, như một vệt mực không thể tan. Nhưng mắt anh sáng, sáng đến mức không giống người đã uống rượu cả buổi tối.

 

Có người bước lại, ngồi xuống chỗ bên cạnh anh.

 

Không phải Triệu Nhược Lâm – hôm nay Triệu Nhược Lâm không đến.

 

Là một gương mặt lạ, một người phụ nữ khoảng hai mươi lăm, hai mươi sáu tuổi, ăn mặc tinh tế, trang điểm đúng mực, khi cười khóe miệng có một nốt ruồi nhỏ, tăng thêm vài phần quyến rũ. Cô ta là một trong những “dân nghệ thuật” do Lục Minh mang đến, nghe nói là họa sĩ, có tiếng trong giới.

 

“Thẩm tiên sinh, ngưỡng mộ đã lâu.” Cô ta nâng ly rượu, hơi nghiêng về phía Thẩm Nghiêm Kinh.

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhìn cô ta, nâng ly, chạm một cái tượng trưng, nhấp một ngụm nhỏ, rồi liền dời ánh mắt đi.

 

Người phụ nữ đó rõ ràng không có kiên nhẫn của Triệu Nhược Lâm, cũng không có chừng mực của Triệu Nhược Lâm. Cô ta xích lại gần Thẩm Nghiêm Kinh, khoảng cách gần đến mức Thẩm Nghiêm Kinh có thể ngửi thấy mùi nước hoa nồng nặc trên người cô ta – không phải không thơm, nhưng anh bỗng nhớ đến chiều nay trên xe, mùi bột giặt thoang thoảng trên người An Dĩ Thư.

 

Sạch sẽ, mềm mại, như chăn bông phơi nắng.

 

Thẩm Nghiêm Kinh đứng dậy, bưng ly rượu bước đến bên cửa sổ.

 

Người phụ nữ đó sững lại, nụ cười trên mặt cứng đờ nửa giây, rồi làm như không có chuyện gì quay sang nói chuyện với người bên cạnh.

 

Hà Húc thấy cảnh này, bưng ly rượu của mình lại, đứng cạnh Thẩm Nghiêm Kinh, hạ giọng nói: “Bây giờ anh nhìn những người phụ nữ khác, còn không thèm liếc mắt một cái à?”

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhìn cảnh đêm ngoài cửa sổ, không trả lời.

 

Cửa sổ câu lạc bộ đối diện với đường vành đai ba phía đông, xe cộ như dệt, đèn đuốc sáng trưng. Đêm mùa đông Bắc Kinh đến sớm, mới hơn tám giờ, cả thành phố đã bị màn đêm và ánh đèn nuốt chửng hoàn toàn.

 

“Này,” Thẩm Nghiêm Kinh bỗng lên tiếng, giọng không cao không thấp, như tự nói với mình, “Một người ở Ung Hòa Cung, sẽ cầu điều gì?”

 

Hà Húc bị câu hỏi này làm cho sững cả người, rồi từ từ, không thể tin được mà bật cười.

 

“Thẩm Nghiêm Kinh, có phải anh đứng ở cửa Ung Hòa Cung cả ngày, chỉ để nghĩ câu hỏi này không?”

 

Thẩm Nghiêm Kinh không trả lời, uống một ngụm rượu.

 

Hà Húc thở dài, vỗ vai anh, dùng giọng điệu của người từng trải nói: “Này bạn, nếu muốn biết cô ấy cầu gì, thì cứ trực tiếp hỏi cô ấy. Anh Thẩm Nghiêm Kinh bao giờ trở nên vòng vo thế này?”

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhìn muôn ngàn ánh đèn ngoài cửa sổ, im lặng rất lâu.

 

Rồi anh bỗng cười một cái, rất nhẹ, rất nhạt, nhưng Hà Húc thấy.

 

“Cũng phải.” Thẩm Nghiêm Kinh nói.

 

Anh nâng ly, uống cạn phần whisky còn lại, rồi đặt ly rỗng lên bệ cửa sổ, quay người bước về phía ghế sofa, cầm lấy chiếc áo khoác vắt trên tay vịn.

 

“Về à?” Hà Húc hỏi.

 

“Về.”

 

“Mới có chưa đầy một tiếng.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh đã mặc áo khoác, kéo cửa, quay đầu nhìn Hà Húc một cái.

 

“Ngày mai có việc.” Anh nói.

 

Cánh cửa đóng lại.

 

Hà Húc đứng bên cửa sổ, bưng ly rượu, nhìn cánh cửa đã đóng, ngẩn người một hồi lâu, rồi lắc đầu, nói với không khí một câu: “Xong rồi, Thẩm Nghiêm Kinh thực sự xong rồi.”

 

Trình Việt ngẩng đầu từ bàn bài: “Về rồi à?”

 

“Về rồi,” Hà Húc quay lại, ngồi phịch xuống ghế sofa, “Anh ấy bảo ngày mai có việc.”

 

“Anh ấy có thể có việc gì?” Lục Minh đẩy gọng kính, mặt đầy khó hiểu, “Cuối tuần anh ấy có thể có việc gì?”

 

Hà Húc nâng ly uống một ngụm, đầy ẩn ý nói: “Đi gặp một người.”

 

Phòng riêng lại im lặng một khoảnh khắc.

 

Tống Dã đặt điếu xì gà xuống, chậm rãi nói một câu: “Có thể khiến Thẩm Nghiêm Kinh để tâm như vậy, chắc phải là một cô gái thế nào?”

 

Không ai trả lời câu hỏi này.

 

Bởi vì không ai biết đáp án.

 

Nhưng tất cả đều thấy rõ, Thẩm Nghiêm Kinh đã thay đổi.

 

Thẩm Nghiêm Kinh – người nổi tiếng trong giới Bắc Kinh, lòng lạnh như sắt, chưa từng bị ai lay động – đã thay đổi.

 

Hà Húc dựa vào ghế sofa, nhìn chiếc đèn pha lê trên trần nhà, bỗng cười một cái.

 

Anh nghĩ, có lẽ đây chính là tình yêu.

 

Đến không một dấu hiệu báo trước, nhưng thế không thể cản.

← TrướcMục lụcSau →

Bình luận (0)

Sắp xếp:
Ctrl+Enter để gửi

Đề Xuất Cho Bạn