Liên hệ:[email protected]
fZalo

Tất cả nội dung truyện chữ và truyện audio trên website được tổng hợp từ nhiều nguồn công cộng hoặc do người dùng tải lên. Chúng tôi không sở hữu bản quyền, không chỉnh sửa nội dung và không chịu bất kỳ trách nhiệm pháp lý nào liên quan đến bản quyền, tính chính xác hay quan điểm trong tác phẩm. Nếu bạn là chủ bản quyền và phát hiện nội dung vi phạm, vui lòng liên hệ ngay với chúng tôi qua email để kiểm tra và gỡ bỏ trong thời gian sớm nhất. Người dùng tự chịu trách nhiệm toàn bộ khi sử dụng nội dung trên website. Chúng tôi không khuyến khích sao chép, phát tán trái phép và khuyến nghị mọi người tôn trọng quyền tác giả.

Biển Truyện
Trang chủThể loạiBảng xếp hạngHoàn thànhBảng vàng
💎XuKiếmtiền
Một Bức Ảnh, Một Mối Tình > Chương 15

Chương 15

Font
Cỡ chữ18
Nền
Rộng760px
← TrướcMục lụcSau →

Chương 15: Bữa cơm ở nhà cũ

 

Thẩm Nghiêm Kinh bị cuộc gọi của Kim Minh Tuệ đánh thức.

 

Không, nói “đánh thức” cũng không chính xác. Anh căn bản chưa hề chợp mắt. Từ lúc đứng bên cửa sổ sát đất tối qua, đến khi ánh sáng bên ngoài le lói dần lên, đến lúc mặt trời lên tới giữa bầu trời, anh chưa từng nhắm mắt. Chai rượu whisky rỗng nằm nghiêng ngả trên bàn trà, chất lỏng màu hổ phách đã chảy khô, chỉ còn lại một lớp váng mỏng dính dính dưới đáy chai. Anh vẫn mặc chiếc áo len cashmere màu xám đậm hôm qua, cổ áo mở rộng, dựa vào sofa, một tay gác lên trán, che đi nửa khuôn mặt.

 

Điện thoại rung trên bàn trà gần mười giây, anh mới đưa tay cầm lấy. Ánh sáng màn hình chói đến nỗi anh nheo mắt, “Mẹ.”

 

“Nghiêm Kinh, tối nay về nhà cũ ăn cơm, bố con nói lâu rồi không gặp con.” Giọng Kim nữ sĩ từ ống nghe truyền ra, mang theo sự thong thả bình thản vốn có của bà, giống như một tách trà vừa đúng độ ấm.

 

Thẩm Nghiêm Kinh mở miệng, giọng khản đặc như giấy ráp cọ qua thủy tinh: “Con biết rồi.”

 

Kim nữ sĩ ở đầu dây bên kia khựng lại một chút: “Giọng con làm sao thế? Cảm à?”

 

“Không ạ. Tối qua con ngủ không ngon.”

 

“Ngủ không ngon? Con mà cũng có lúc ngủ không ngon? Từ nhỏ con đã được cái cho cái gối là ngủ tới sáng.” Giọng Kim nữ sĩ mang theo một tia nghi hoặc, nhưng Thẩm Nghiêm Kinh không nói gì, bà cũng không hỏi thêm, “Bảy giờ tối, đừng đến muộn. Anh cả và anh hai con đều về, bố con nói rồi, cả nhà ăn bữa cơm tử tế.”

 

“Vâng.”

 

Cúp điện thoại, Thẩm Nghiêm Kinh nằm thêm một lúc trên sofa. Tay che mắt, ánh đèn trên trần nhà xuyên qua kẽ ngón tay rơi xuống, vỡ vụn thành một mảng quầng sáng mờ ảo trong tầm nhìn của anh. Trong đầu anh vẫn là những hình ảnh ấy, từng khung hình lặp đi lặp lại, như một cái máy chiếu hỏng, tắt không được, dừng cũng chẳng xong.

 

Cuối cùng, gần tới trưa, anh mới mơ màng ngủ được một lúc. Trong mơ hỗn độn lung tung, có lá ngân hạnh, có tiếng mưa, có một bóng lưng mặc áo lông vũ trắng càng đi càng xa, anh đuổi thế nào cũng không kịp. Tỉnh dậy, nội dung trong mơ đã mờ nhạt, nhưng cảm giác tức ngực vẫn còn, như có tảng đá đè ở đó, thở một hơi cũng thấy nặng nề.

 

Tắm một cái, cạo râu, thay một bộ quần áo sạch. Người trong gương chẳng khác gì ngày thường – tóc tai đã chải chuốt, mặt mũi sạch sẽ, áo len cổ lọ màu xám đậm bên trong khoác thêm một chiếc áo khoác mỏng màu đen, cả người trông lạnh lùng và cao quý, chẳng khác gì một ngày làm việc bình thường.

 

Nhưng tự anh biết, có thứ gì đó đã khác.

 

Trước đây, trước khi ra ngoài soi gương, anh thấy là Thẩm Nghiêm Kinh – con trai nhà họ Thẩm, người sáng lập Nghiễn Sơn Tư Bản, Thẩm Tam thiếu trong giới Bắc Kinh chẳng ai dám coi thường. Hôm nay anh thấy là một người đàn ông đã bị chặn mất, không có cơ hội giải thích, thậm chí không thể gửi nổi một câu “xin lỗi”. Người đàn ông ấy khiến anh cảm thấy xa lạ, thậm chí có chút nực cười.

 

Anh, Thẩm Nghiêm Kinh, cuối cùng cũng có ngày hôm nay.

 

Sáu rưỡi chiều, xe dừng ở đầu ngõ nhà cũ.

 

Thẩm Nghiêm Kinh không để tài xế lái vào, anh để xe đỗ bên ngoài ngõ, tự mình xuống xe đi bộ vào. Mùa đông, ngõ hẻm tối sớm, hơn sáu giờ đã là chạng vạng nặng nề. Đèn đường trong ngõ sáng lên, ánh sáng vàng cam trải dài trên gạch xanh ngói xám, biến cả con hẻm thành như một bức tranh cũ phai màu. Trong không khí có mùi bếp lò than, hòa lẫn với hương thịt hầm từ nhà ai đó, ấm áp, từ một sân nào đó bay ra, lan tỏa trong gió lạnh.

 

Thẩm Nghiêm Kinh đi chậm, vạt áo khoác nhẹ nhàng đung đưa theo bước chân. Khi đi ngang qua cây ngân hạnh ấy, bước chân anh bất giác chậm lại. Mùa đông, cây ngân hạnh trơ trụi, cành khô vươn lên bầu trời xanh xám, như vô số bàn tay khô héo đang cố nắm bắt thứ gì. Dưới gốc cây phủ một lớp lá khô, bị gió thổi tứ tung, giẫm lên phát ra âm thanh giòn tan, khô khốc.

 

Anh đứng dưới gốc cây hai giây.

 

Trong đầu lại lóe lên hình ảnh ấy – hoàng hôn cuối tháng chín, cây vàng rực, cô đứng dưới gốc cây, giơ máy ảnh lên, chăm chú như thể trên đời chỉ còn lại cô và cái cây. Lúc ấy cô không biết anh ở trong xe, không biết anh đang nhìn cô, không biết từ khoảnh khắc ấy, thế giới của anh đã bị hình bóng cô lấp đầy.

 

Thẩm Nghiêm Kinh thu hồi ánh mắt, đẩy cánh cửa sân nhà cũ.

 

Kim nữ sĩ đang bận rộn trong bếp.

 

Nói là “bận rộn”, thực ra cũng chỉ là đứng bên cạnh chỉ huy cô giúp việc làm cái này cái kia. Bà mặc một chiếc áo len cashmere màu xanh đậm, tóc búi cao, đôi hoa tai ngọc trắng, trông trẻ hơn nhiều so với tuổi. Giữ gìn là một mặt, quan trọng hơn là khí chất thong thả nơi bà – không phải giả tạo, mà là khí chất của người sống tốt, lòng an ổn mới có.

 

“Đến rồi à?” Kim nữ sĩ thò đầu ra khỏi bếp, nhìn Thẩm Nghiêm Kinh một cái, ánh mắt dừng lại trên mặt anh, “Sao mặt mày tệ thế? Lại uống rượu hả? Mẹ nói bao nhiêu lần rồi, rượu hại sức khỏe, cái dạ dày của con –”

 

“Mẹ,” Thẩm Nghiêm Kinh ngắt lời bà, giọng không nặng, nhưng cái âm điệu ấy Kim nữ sĩ quá quen – đây là ý “đừng nói nữa”, “Con không uống nhiều.”

 

Kim nữ sĩ nhìn anh, muốn nói lại thôi, cuối cùng phất tay: “Vào ngồi đi, bố con ở thư phòng, anh cả anh hai con chưa tới.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh bước vào chính phòng, ngồi xuống sofa. Trong nhà lò sưởi đốt rất ấm, nóng hầm hập, đối lập rõ rệt với gió lạnh bên ngoài. Con mèo cam của Kim nữ sĩ cuộn tròn ở một góc sofa, thấy anh vào, tai động đậy, không mở mắt, đuôi lười biếng vẽ một vòng tròn trong không khí.

 

Thẩm Nghiêm Kinh dựa vào sofa, cầm một cuốn tạp chí trên bàn trà lật vài trang, rồi lại đặt xuống. Anh cầm điện thoại lên xem – không có tin nhắn mới. Anh úp điện thoại lên đầu gối, dựa vào sofa, nhìn chiếc đèn chùm trên trần nhà. Đèn chùm kiểu cũ, khung đồng thau, chụp thủy tinh, Kim nữ sĩ nói cái đèn này dùng gần hai mươi năm rồi, vẫn không nỡ thay.

 

Điện thoại rung lên.

 

Thẩm Nghiêm Kinh gần như theo bản năng lật điện thoại lại, khoảnh khắc màn hình sáng lên, ánh mắt anh đã quét tới thanh thông báo.

 

Không phải tin nhắn WeChat. Là một tin tức đẩy.

 

Anh lại úp điện thoại lên đầu gối, dựa vào sofa, nhắm mắt một lúc.

 

Kim nữ sĩ bưng một đĩa trái cây từ bếp ra, thấy dáng vẻ Thẩm Nghiêm Kinh dựa trên sofa, lông mày hơi nhíu lại. Bà đặt đĩa trái cây lên bàn trà, ngồi xuống cạnh Thẩm Nghiêm Kinh, nhìn anh vài giây.

 

“Nghiêm Kinh, con có chuyện gì à?” Kim nữ sĩ hỏi.

 

Thẩm Nghiêm Kinh mở mắt, nhìn mẹ một cái: “Không có gì ạ.”

 

Kim nữ sĩ nhìn chằm chằm anh hai giây, trong ánh mắt có xem xét, có quan tâm, và có sự chắc chắn đặc trưng của một người mẹ đối với con mình – không gì giấu được.

 

“Con từ nhỏ đã thế, có chuyện không bao giờ nói.” Kim nữ sĩ cầm một quả quýt trên đĩa trái cây, bắt đầu bóc. Vỏ quýt được bóc từng miếng, để lộ phần thịt màu vàng cam, hương thơm thanh mát của vỏ quýt lan tỏa trong không khí, tươi mới và dễ chịu. “Hồi nhỏ con đánh vỡ đầu thằng Hà Húc, về nhà im thin thít, mặt không biểu cảm gì, nếu không phải bố nó gọi điện thoại đến, mẹ còn tưởng con ngoan lắm ở trường.”

 

Khóe miệng Thẩm Nghiêm Kinh hơi động, không hẳn là cười, nhưng cũng không phải vô cảm: “Tại nó động tay trước.”

 

“Ai động tay trước không quan trọng,” Kim nữ sĩ đưa quả quýt đã bóc cho anh, “quan trọng là con chưa bao giờ nói với mẹ con đang nghĩ gì. Trước đây thế, bây giờ cũng thế.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhận quả quýt, không ăn, cầm trong tay xoay hai vòng. Vỏ quýt mát lạnh, căng mọng nước, đầu ngón tay ấn xuống có thể cảm nhận được phần thịt bên trong hơi rung động. Anh nhìn quả quýt, im lặng vài giây, rồi nói một câu khiến Kim nữ sĩ bất ngờ: “Mẹ, mẹ còn nhớ không, cuối tháng chín, có một cô gái đến sân nhà mình? Cầm máy ảnh, mẹ nói cô ấy chụp ảnh hơn nửa tiếng đồng hồ.”

 

Tay Kim nữ sĩ khựng lại.

 

Bà đương nhiên nhớ. Chiều hôm ấy nắng rất đẹp, cây ngân hạnh trong sân vàng rực, bà nghe thấy động tĩnh ngoài cửa, đẩy cửa ra thấy một cô gái trẻ đứng dưới gốc cây ngân hạnh chụp ảnh, mặc áo len dệt kim màu trắng kem, cười lên mày cong mắt cong, nói chuyện dịu dàng, xinh quá chừng. Bà để cô gái ấy ở trong sân chụp ảnh, hái cho cô ấy một túi táo tàu, suýt nữa còn giữ lại ăn cơm tối.

 

“Nhớ,” Kim nữ sĩ nhìn Thẩm Nghiêm Kinh, trong mắt có một tầng xem xét mới, sâu hơn, “Cô gái ấy làm sao?”

 

Thẩm Nghiêm Kinh không trả lời. Anh đặt quả quýt lên bàn trà, dựa vào sofa, ánh mắt rơi lên bức tranh thủy mặc trên tường đối diện. Vẽ sơn thủy, núi xa nước gần, nhiều khoảng trống, nhìn lâu sẽ cảm thấy trong những khoảng trống ấy giấu thứ gì đó, nhưng chẳng nói rõ là gì.

 

Kim nữ sĩ nhìn gương mặt nghiêng của con trai, trong lòng bỗng nhiên hiểu ra điều gì. Bà không phải loại mẹ hay làm quá lên, trái lại, bà quá hiểu Thẩm Nghiêm Kinh – hiểu sự lạnh nhạt của nó, hiểu lòng kiêu hãnh của nó, hiểu tính chẳng để tâm gì, chẳng để ý ai của nó. Vì thế bà càng rõ, việc Thẩm Nghiêm Kinh chủ động nhắc đến một cô gái, bản thân điều ấy đã nói lên rất nhiều.

 

“Con làm gì người ta rồi?” Kim nữ sĩ hỏi.

 

Thẩm Nghiêm Kinh nghiêng đầu nhìn mẹ một cái, khóe miệng động đậy, trong độ cong ấy không có ý cười, chỉ có một thứ khó tả, vừa như đắng vừa như tự giễu: “Cô ấy chặn con trên WeChat rồi.”

 

Lông mày Kim nữ sĩ hơi nhướng lên.

 

Không phải ngạc nhiên, mà là cái kiểu “quả nhiên là thế”, mang theo một tia thích thú tinh tế. Bà cầm tách trà trên bàn trà uống một ngụm, đặt xuống, giọng điệu bình thản như đang nói một chuyện chẳng liên quan: “Người ta sao lại chặn con?”

 

Thẩm Nghiêm Kinh không trả lời. Không phải không muốn nói, mà không biết bắt đầu từ đâu. Bắt đầu từ những lời đồn? Bắt đầu từ quá khứ của anh? Bắt đầu từ bốn chữ “bao dưỡng minh tinh”? Anh không nói nên lời. Không phải vì những lời đồn ấy là thật, mà vì anh chưa từng giải thích với bất kỳ ai về đời tư của mình, chưa từng có thói quen ấy. Lòng kiêu hãnh của anh không cho phép anh như một đứa trẻ phạm lỗi, khai báo từng li từng tí mình đã làm gì, chưa làm gì.

 

Kim nữ sĩ nhìn biểu cảm của anh, không truy hỏi. Bà chỉ lại cầm một quả quýt, chậm rãi bóc, hương vỏ quýt lại lan tỏa.

 

“Nghiêm Kinh,” Kim nữ sĩ nói, giọng không cao không thấp, như đang nói một điều bà đã nghĩ rất lâu, “con từ nhỏ đã rất thông minh, muốn gì cũng lấy được, làm gì cũng thành công. Nhưng có những thứ, không phải dựa vào thông minh là lấy được. Chuyện tình cảm này, nếu con còn dùng cái lối ngoài thương trường – tính toán, cân nhắc, chờ đối phương ra bài trước – thì con đừng động vào thì hơn.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhìn mẹ. Kim nữ sĩ không nhìn anh, cúi đầu bóc quýt, động tác tay rất nhẹ rất chậm, như đang bóc một thứ dễ vỡ. Gương mặt nghiêng của bà dưới ánh đèn trông mềm mại và bình tĩnh, nhưng từng chữ bà nói ra, đều như đinh đóng vào tim Thẩm Nghiêm Kinh.

 

“Người ta chặn con, con để người ta chặn à?” Kim nữ sĩ đặt quả quýt đã bóc vào đĩa trái cây, ngẩng đầu nhìn anh một cái, “Nếu con thực sự quan tâm, thì đến tận mặt nói rõ với người ta. Nếu con không quan tâm, thì đừng có bày ra cái vẻ thất hồn lạc phách ở đây, mẹ nhìn khó chịu.”

 

Cửa chính phòng bị đẩy ra, Thẩm Hoài Viễn từ thư phòng bước ra.

 

Ông mặc một bộ đồ nhà màu sẫm, tóc chải gọn gàng, cả người trông rất tinh thần. Ngoài năm mươi tuổi, giữ gìn tốt, giữa chân mày vẫn còn nét anh khí của tuổi trẻ, nhưng khi cười rất ôn hòa, không như ở cơ quan uy nghiêm không giận tự uy.

 

“Nghiêm Kinh đến rồi à?” Thẩm Hoài Viễn bước tới sofa ngồi xuống, nhìn con trai út một cái, lông mày hơi động, “Mặt mũi không tốt, ngủ không ngon à?”

 

“Vâng.” Thẩm Nghiêm Kinh nói.

 

Thẩm Hoài Viễn không hỏi nhiều. Ông không phải người hay câu nệ chuyện nhỏ, vai trò trong nhà giống như cây định hải thần châm hơn – ngồi ở đó, cả nhà có chủ. Ông không cần nói gì làm gì, sự tồn tại của ông tự nó đã là một sức mạnh.

 

“Anh cả và anh hai con sắp tới,” Thẩm Hoài Viễn cầm tờ báo trên bàn trà, lật hai trang, “Hôm nay không có việc gì lớn, chỉ là cả nhà ăn bữa cơm.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh gật đầu.

 

Chẳng bao lâu sau, cửa sân reo lên, Thẩm Nghiêm Đình và Thẩm Nghiêm Từ lần lượt bước vào.

 

Thẩm Nghiêm Đình mặc một chiếc áo khoác màu sẫm, tay xách hai túi đồ, vừa vào đã nói: “Mẹ, con mang cho mẹ hai hộp trà, bạn con từ Vũ Di Sơn mang về, nói là nhục quế chính nham, mẹ thử xem.”

 

Kim nữ sĩ nhận lấy, cười nói “có lòng rồi”.

 

Thẩm Nghiêm Từ đi sau, quân phục đã thay thành thường phục, nhưng dáng đi vẫn là kiểu quân nhân – lưng thẳng tắp, bước chân vững vàng mạnh mẽ. Anh vào trước chào Kim nữ sĩ, rồi nhìn Thẩm Nghiêm Kinh một cái, ánh mắt dừng lại trên mặt anh một khoảnh khắc.

 

“Sao gầy thế?” Thẩm Nghiêm Từ nói. Không phải quan tâm, mà là trần thuật, giọng điệu bình thản như đang nói “hôm nay thời tiết đẹp”, nhưng Thẩm Nghiêm Kinh nghe ra, anh hai đang nhìn anh.

 

“Không gầy.” Thẩm Nghiêm Kinh nói.

 

Thẩm Nghiêm Từ không nói thêm gì, ngồi xuống sofa đối diện Thẩm Nghiêm Kinh. Ba anh em ngồi cùng nhau, khí chất mỗi người mỗi khác – Thẩm Nghiêm Đình trầm ổn nội liễm, như một thanh kiếm trong vỏ; Thẩm Nghiêm Từ cứng rắn sắc bén, như một con dao ra khỏi vỏ; Thẩm Nghiêm Kinh lạnh lùng cao quý, như một miếng ngọc được mài giũa tinh tế, nhìn thì ấm, sờ vào lại lạnh.

 

Kim nữ sĩ bưng thức ăn từ bếp ra, cô giúp việc theo sau, từng đĩa bày lên bàn. Sườn non kho tàu, cá vược hấp xì dầu, súp lơ xanh tỏi, cà chua xào trứng, một nồi canh sườn hầm ngó sen – đều là đồ ăn nhà làm, không sơn hào hải vị, nhưng món nào cũng làm tinh tế và dụng tâm.

 

Cả nhà quây quần bên bàn, tiếng bát đũa và tiếng nói chuyện hòa lẫn, ấm áp và bình thường.

 

Thẩm Hoài Viễn ngồi ghế chủ, nâng ly rượu, trước cụng với hai người con lớn, rồi nhìn Thẩm Nghiêm Kinh một cái, đưa ly rượu qua. Thẩm Nghiêm Kinh nâng ly, cụng một cái, tiếng ly sứ va chạm trong trẻo và ngắn ngủi, vọng lại trong không khí ấm áp.

 

“Nghiêm Kinh, cái công ty công nghệ của con, chuyện lên sàn tiến triển đến đâu rồi?” Thẩm Hoài Viễn đặt ly rượu xuống, gắp một miếng sườn.

 

“Đầu năm sau.” Thẩm Nghiêm Kinh nói.

 

“Chọn công ty chứng khoán chưa?”

 

“Chọn rồi. Trung Tín.”

 

Thẩm Hoài Viễn gật đầu, không hỏi tiếp. Ông xưa nay không hỏi nhiều về việc làm ăn của Thẩm Nghiêm Kinh, nhưng năm nào cũng hỏi một hai câu, như một thông lệ, cũng là một sự quan tâm ngầm cho phép.

 

Thẩm Nghiêm Đình đặt đũa xuống, nhìn Thẩm Nghiêm Kinh: “Nghiêm Kinh, dạo này bận không?”

 

“Cũng tạm.”

 

“Mấy thằng bạn thuở nhỏ của em, Hà Húc bọn nó, dạo này thế nào? Lâu lắm không gặp.”

 

“Vẫn thế.” Thẩm Nghiêm Kinh cầm tách trà uống một ngụm, giọng điệu bình thản như đọc một danh sách chẳng liên quan, “Hà Húc đang làm hai dự án mới, Trình Việt bên đó đang đàm phán một khoản tài trợ, Lục Minh chuyển phòng ban, Tống Dã đang làm nhạc.”

 

Thẩm Nghiêm Đình cười: “Mấy đứa bọn con, từ nhỏ lớn lên cùng nhau, đến giờ vẫn quậy với nhau, cũng không dễ.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh không tiếp lời.

 

Chủ đề trên bàn ăn lung tung, từ công việc của Thẩm Nghiêm Đình ở cơ quan đến việc điều động quân đội của Thẩm Nghiêm Từ, từ lớp cắm hoa gần đây của Kim nữ sĩ đến chuyện tháng sau Thẩm Hoài Viễn phải đi công tác ngoại tỉnh. Ai cũng nói, ai cũng cười, không khí ấm áp và bình thường, chẳng khác gì bất kỳ bữa cơm gia đình nào.

 

Nhưng Thẩm Nghiêm Kinh hầu như không nói gì.

 

Anh ngồi đó, bát cơm ăn chưa đến một nửa, đũa đưa ra đếm trên đầu ngón tay. Không phải anh cố tình không nói, mà trong đầu anh luôn có một âm thanh khác vang lên – không phải lời cụ thể, mà là một thứ âm thanh ù ù, liên tục, không thể tập trung, như một con ong mắc kẹt trong lọ thủy tinh, không ngừng va vào thành lọ, không tìm được lối ra.

 

Kim nữ sĩ chú ý. Bà đã để ý từ lúc Thẩm Nghiêm Kinh bước vào cửa – sắc mặt, sự im lặng, tốc độ gần như bản năng khi anh xem điện thoại. Bà không nói gì, chỉ khi gắp thức ăn cho Thẩm Nghiêm Kinh, gắp thêm một miếng sườn, bỏ vào bát anh.

 

“Ăn nhiều vào, nhìn con gầy thế nào.” Kim nữ sĩ nói.

 

Thẩm Nghiêm Kinh cúi đầu nhìn miếng sườn trong bát, gắp lên ăn.

 

Thẩm Nghiêm Từ cũng chú ý. Anh không phải người chủ động quan tâm đến cảm xúc của người khác, nhưng anh là người có khả năng quan sát cực kỳ mạnh – đây là thói quen nghề nghiệp của quân nhân. Anh quan sát sự im lặng của Thẩm Nghiêm Kinh, quan sát bát cơm hầu như không động đậy của Thẩm Nghiêm Kinh, quan sát sự biến đổi tinh tế trên nét mặt khi Thẩm Nghiêm Kinh xem điện thoại – không phải mong đợi, không phải lo lắng, mà là một kiểu kiểm tra vô thức, lặp đi lặp lại, vô nghĩa, mà chính anh có thể cũng không nhận ra.

 

“Nghiêm Kinh,” Thẩm Nghiêm Từ bỗng nhiên mở miệng, giọng không cao không thấp, nhưng cả bàn đều im lặng, “Em có chuyện gì à?”

 

Thẩm Nghiêm Kinh ngẩng đầu nhìn anh hai một cái: “Không có.”

 

Thẩm Nghiêm Từ nhìn chằm chằm anh hai giây, rồi gật đầu, không truy hỏi. Anh biết tính Thẩm Nghiêm Kinh – chuyện không muốn nói, có kề dao vào cổ cũng không nói.

 

Sau bữa ăn, Kim nữ sĩ vào bếp dọn dẹp, Thẩm Hoài Viễn và hai người con lớn ngồi phòng khách uống trà tán gẫu. Thẩm Nghiêm Kinh không tham gia, một mình đi ra sân.

 

Sân mùa đông rất yên tĩnh. Cây ngân hạnh trơ trụi đứng giữa sân, cành khô vẽ lên bầu trời đêm những đường nét chi chít như mạch máu. Đèn lồng dưới mái hiên sáng lên, ánh sáng đỏ cam trải một lớp quầng sáng mỏng trên nền gạch xanh. Bụi trúc ở góc sân vẫn xanh, khẽ lay động trong gió đêm, phát ra tiếng xào xạc.

 

Thẩm Nghiêm Kinh đứng dưới mái hiên, tay đút trong túi áo khoác, ngửa đầu nhìn bầu trời đêm. Mùa đông ở Kinh thị, sao rất ít, màn trời là một màu xanh thẳm sâu hun hút, không thấy đáy, như một tấm nhung khổng lồ, hút hết mọi ánh sáng.

 

Anh nhớ hồi nhỏ, mỗi năm mùa thu lá ngân hạnh vàng, Kim nữ sĩ dẫn anh ra sân nhặt lá rụng, kẹp mấy chiếc đẹp nhất vào sách. Anh nói “lá sẽ vỡ mất”, Kim nữ sĩ nói “vỡ rồi cũng là mùa thu”. Lúc ấy anh không hiểu câu nói ấy, bây giờ anh bỗng nhiên cảm thấy, Kim nữ sĩ nói không chỉ về lá.

 

Anh lấy điện thoại ra.

 

Khi màn hình sáng lên, anh lại mở khung chat với An Dĩ Thư. Trong danh sách tin nhắn đã không còn cái tên này nữa, anh tìm trong danh bạ – ảnh đại diện của cô vẫn còn, là một tấm ảnh lá ngân hạnh, anh nhấn vào, khung chat trống rỗng, không có nội dung gì. Anh thử gửi một tin nhắn, dấu chấm than màu đỏ lại xuất hiện, như một vũng máu, loang ra trên màn hình.

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhìn chằm chằm dấu chấm than đỏ ấy hai giây, thoát khỏi khung chat, cất điện thoại vào túi.

 

Cửa sân sau lưng anh kêu lên, Kim nữ sĩ bước ra. Bà khoác một chiếc khăn choàng cashmere, tay cầm một tách trà nóng, đi đến bên Thẩm Nghiêm Kinh, đưa tách trà cho anh.

 

“Ngoài lạnh, uống miếng nóng.” Kim nữ sĩ nói.

 

Thẩm Nghiêm Kinh nhận tách trà, cầm trong tay. Hơi nóng từ thành tách truyền qua gốm sứ vào lòng bàn tay anh, đối lập rõ rệt với gió lạnh bên ngoài. Anh cúi đầu uống một ngụm, là hồng trà, thêm mật ong, ngọt ngào, từ cổ họng ấm đến tận dạ dày.

 

Kim nữ sĩ đứng cạnh anh, không nhìn anh, ánh mắt rơi lên cây ngân hạnh trơ trụi.

 

“Nghiêm Kinh,” Kim nữ sĩ nói, giọng rất nhẹ, bị gió đêm thổi tan đi phần nào, “Có những lời, con không nói, người ta sẽ không bao giờ biết.”

 

Thẩm Nghiêm Kinh nghiêng đầu nhìn mẹ một cái. Kim nữ sĩ không nhìn anh, vẫn nhìn cây ngân hạnh, biểu cảm bình tĩnh và thong thả, như cách bà xử lý mọi chuyện – không vội không vàng, cái nên nói thì nói, cái không nên thì không, nhưng mỗi câu nói ra, đều là điều bà đã nghĩ rất lâu.

 

“Nếu con thực sự quan tâm cô gái ấy, thì đừng đứng đây.” Kim nữ sĩ nói xong câu này, quay người vào nhà, vạt khăn choàng nhẹ nhàng bay lên trong gió đêm, như một chiếc lá bị gió thổi bay.

 

Thẩm Nghiêm Kinh đứng dưới mái hiên, tay cầm tách hồng trà pha mật ong, nhìn cây ngân hạnh trơ trụi, đứng rất lâu.

 

Gió đêm từ đầu ngõ tràn vào, mang theo cái khô lạnh đặc trưng của mùa đông, thổi vạt áo khoác của anh không ngừng bay lên. Anh đứng đó, như một người bị đóng băng, không động, không nói, chỉ nhìn những cành cây vươn lên bầu trời xanh thẳm, như đang chờ một câu trả lời, hoặc chờ một quyết định.

 

Anh nhớ cô nói “chúng ta cũng chẳng có quan hệ gì” với giọng nhẹ bẫng, nhớ ngón tay cô không chút do dự khi chặn anh, nhớ dấu chấm than đỏ như vũng máu loang trên màn hình. Anh nhớ Kim nữ sĩ nói “nếu con thực sự quan tâm, thì đến tận mặt nói rõ với người ta”, nhớ Thẩm Nghiêm Từ nói “em có chuyện gì à”, nhớ Hà Húc nói “mày gửi tin nhắn hỏi một câu là xong”.

 

Anh nhớ tất cả những lời ấy, và rồi anh đưa ra một quyết định.

 

Thẩm Nghiêm Kinh uống nốt ngụm hồng trà cuối cùng, quay người bước vào nhà.

 

Kim nữ sĩ đang ở phòng khách nói chuyện với Thẩm Nghiêm Đình, thấy anh vào, ánh mắt dừng lại trên mặt anh một giây. Biểu cảm của Thẩm Nghiêm Kinh khác trước, bà không nói rõ khác chỗ nào, nhưng chính là khác – cái biểu cảm chìm đáy, vô hồn đã biến mất, thay vào đó là một thứ yên tĩnh hơn, nhưng có sức mạnh hơn, như một con dao được mài lại, lớp gỉ trên lưỡi dao đã được mài đi, để lộ ánh sắc bén bên dưới.

 

“Mẹ, con về trước.” Thẩm Nghiêm Kinh nói.

 

Kim nữ sĩ nhìn anh: “Đi đâu?”

 

Thẩm Nghiêm Kinh không trả lời, nhưng anh nhìn Kim nữ sĩ một cái. Trong cái nhìn ấy có rất nhiều thứ – cảm ơn, thấu hiểu, và một vài cảm xúc tạm thời anh chưa nói rõ. Kim nữ sĩ hiểu, không hỏi nhiều, chỉ gật đầu.

 

Thẩm Nghiêm Kinh ra khỏi chính phòng, băng qua sân, đẩy cửa sân, bước vào ngõ hẻm. Bước chân anh rất lớn, vạt áo khoác tung lên sau lưng, kéo theo một luồng gió lạnh. Đèn đường trong ngõ kéo bóng anh dài thật dài, đổ lên nền đá xanh, như một bóng hình cô độc, nhưng không còn do dự.

 

Anh ngồi vào xe, nói với tài xế một địa chỉ.

 

Phương Viễn từ ghế phụ quay đầu lại, nghe thấy địa chỉ ấy thì khựng lại – tòa nhà văn phòng của Hoa Văn Tân Môi. Địa chỉ này anh quá quen, Thẩm Nghiêm Kinh đã đi vô số lần trong tháng qua. Nhưng anh cũng biết, bây giờ đã hơn chín giờ tối, cô gái ấy khả năng lớn không còn ở công ty.

 

Nhưng biểu cảm của Thẩm Nghiêm Kinh nói với anh – đừng hỏi.

 

Phương Viễn quay lại, gật đầu với tài xế.

 

Xe trong màn đêm lao ra khỏi ngõ hẻm, hòa vào dòng xe trên đường chính. Cảnh đêm Kinh thị vẫn lộng lẫy như thường, ánh sáng neon và đèn đường đan xen trên cửa kính xe, như một bộ phim không tiếng. Thẩm Nghiêm Kinh dựa vào ghế, nhìn thành phố lướt nhanh ngoài cửa sổ, ngón tay khẽ gõ lên đầu gối, một cái, rồi lại một cái, tần số không nhanh không chậm, như đang đánh nhịp cho chính mình.

 

Anh không biết đến nơi sẽ nói gì, không biết cô có gặp anh không, không biết gặp rồi cô sẽ càng giận hay chịu nghe anh giải thích. Anh chẳng biết gì, chẳng chắc gì.

 

Nhưng có một điều anh đã chắc.

 

Anh không muốn kết thúc như thế này.

 

Không phải vì lòng kiêu hãnh không cho phép, không phải vì anh Thẩm Nghiêm Kinh chưa từng bị ai chặn, không phải vì không cam tâm – mà vì, trong khoảnh khắc dấu chấm than đỏ ấy xuất hiện, anh rõ ràng, không giữ lại chút nào, không thể tự lừa dối mình, nhận ra một điều: anh quan tâm cô. Không phải kiểu quan tâm bình thường, mà là kiểu nghĩ đến sau này không gặp lại cô nữa, cảm thấy cuộc đời mình thiếu mất một mảng lớn, thế nào cũng không lấp đầy được.

 

Cảm giác này quá xa lạ với anh, xa lạ đến nỗi anh mất cả một ngày mới hiểu nó là gì.

 

Bây giờ anh đã hiểu rồi.

 

Anh không muốn chờ nữa.

← TrướcMục lụcSau →

Bình luận (0)

Sắp xếp:
Ctrl+Enter để gửi

Đề Xuất Cho Bạn