Chương 41: Nhà có lừa.
Lam Di đang nấu sữa bột. Con dê trong nhà cho khá nhiều sữa, ba người uống không hết mỗi ngày, Lam Di bèn tính đổ phần thừa vào nồi, đun nhỏ lửa cho cạn dần, từ từ thành bột sữa. Cô không biết làm vậy có làm mất chất dinh dưỡng không, nhưng còn hơn lãng phí. Bột sữa nấu ra hương vị cũng khá ngon.
“Mẹ ơi, mẹ ơi, gà con mọc mào đỏ và đuôi dài rồi.” Vũ Nhi chạy vào bếp, nói bên cạnh Lam Di, giọng có chút buồn bực, vì mẹ đã nói con nào như vậy là gà trống, không đẻ trứng đâu.
“Thế à? Nhà mình còn mười con gà mái đuôi ngắn, sẽ đẻ trứng mà.” Gà con và ngỗng con trong nhà được Lam Di chăm sóc kỹ lưỡng, lớn rất nhanh, cô đã phân biệt được trong mười lăm con gà có mười con mái, năm con trống. Ngỗng con tuy lớn nhanh hơn gà, nhưng Lam Di không biết phân biệt trống mái ở ngỗng. Tỷ lệ gà mái chiếm hai phần ba trong đàn gà khiến cô khá hài lòng, cảm thấy nhân phẩm và con mắt của mình cũng tốt đấy chứ.
“Mẹ ơi, mẹ ơi.” Bảo Bảo cũng bi bô, từ ngữ rõ ràng hơn một chút.
Lam Di cười, hôn lên má nó: “Bảo Bảo, muốn nói gì với mẹ nào?”
Bảo Bảo vặn vẹo người, chỉ vào đàn gà: “A, a.” Bây giờ nó theo bản năng lặp lại những gì Vũ Nhi làm, và thích thú vô cùng.
“Mẹ biết rồi, nhà mình có gà trống và gà mái. Vũ Nhi, Bảo Bảo, đi nào, chúng ta ra đào mấy cây bí đỏ con đem trồng xuống đất, khi nào có quả bí to, chúng ta sẽ gói bánh chẻo ăn nhé.” Lam Di tắt bếp, dẫn hai đứa trẻ vào vườn rau.
Ra tới phía nam thôn, thấy cái guồng nước vẫn còn đó, có người đang đạp guồng tưới ruộng. Những thửa ruộng dốc được tưới nước trông xanh mướt, khiến lòng người khoan khoái. Thửa ruộng nước thấp nhất lúa đã phủ kín mặt nước, sinh trưởng rất tốt. Đậu xanh và đậu tương Lam Di tự tay gieo cũng đã nảy mầm, những hàng cây non cao chừng một gang tay xanh mơn mởn khiến cô không nhịn được nở nụ cười.
Niềm vui của nghề làm ruộng là ở chỗ này, nhìn mạ non trên đồng ngày một lớn lên, hy vọng thu hoạch cũng càng lớn. Ruộng đất là thứ chân thật nhất, không lừa dối, không cần tranh đấu, có công cấy có cây hái, có vất vả ắt có thu hoạch.
Trồng xong mấy cây bí, Lam Di dẫn hai đứa trẻ đi dạo quanh ven rừng, nhận biết cây cỏ. Ven rừng chủ yếu là cây gỗ thấp và cây bụi, bên dưới mọc đầy cỏ dại. Cô có thể phân biệt được vài loại thân thảo phổ biến như bồ công anh, quán chúng, cúc dại, rau má, quỷ kiến sầu, ngũ vị tử, dây leo thiết tuyến liên... cùng với một số cây bụi như câu kỷ, liên kiều, táo chua mọc xen trong đám bác lạc hồi cao hơn mét. Đi sâu vào trong là những cây cao lớn hơn như hồ duy tử, luân thụ, hòe, hồng... Lam Di phát hiện còn có vài loại quả dại, như đào rừng, mơ rừng, sơn tra... thậm chí còn thấy cả cây dâu. Quả dâu trên cành đã ngả đen, từng chùm lủng lẳng. Nhìn xa hơn về phía núi, hình như là loại tùng bách, đỉnh núi ẩn hiện trong mây trắng, rất hùng vĩ.
Lam Di nhìn quả dâu, bỗng thấy nước miếng trong miệng chảy ồ ạt.
“Vũ Nhi, con trông em ở đây nhé, mẹ đi hái quả cho chúng ta.” Lam Di đặt Bảo Bảo xuống bờ ruộng, dặn Vũ Nhi trông em cẩn thận.
“Mẹ ơi, quả là gì ạ?” Vũ Nhi chưa nghe cách gọi này.
“Là quả mọc trên cây ấy mà. Các con nhìn kìa, cái cây xa xa có quả đen đen kia là quả dâu mẹ định hái đấy.” Lam Di chỉ vào một cây cách đó hơn hai mươi mét, “Hai đứa ngoan ngoãn ngồi đây, mẹ sợ trong rừng có rắn.”
Bảo Bảo tuy chưa biết nói, nhưng có phản ứng với mấy chữ “ngoan ngoãn ngồi đây”. Nó “a a” đáp lại hai tiếng, ngồi ngoan bên cạnh Vũ Nhi, tay để trên đùi, ngước nhìn Lam Di.
Lam Di bị hai đứa nhỏ làm động tác giống hệt nhau khiến tim gan run lên, lau nước miếng rồi dùng cành cây khua đám cỏ dại xua đuổi rắn rết, từ từ tiến lại gần cây dâu. Những quả dâu trên cành thấp đã bị người ta hái mất, Lam Di nắm lấy thân cây, lắc mạnh, làm mấy con chim đang kiếm ăn giật mình bay đi, rung rụng một đám dâu chín đen tím.
Cô nhanh tay nhặt khá nhiều bỏ vào giỏ đeo lưng, lại hái thêm ít mộc nhĩ bán khô trên một cành cây khô bên cạnh, rồi vội vàng rời khỏi rừng. Hai đứa trẻ vẫn đang ngồi bên ngoài chờ mòn mỏi.
Về đến nhà, rửa sạch quả dâu bằng nước giếng mát lạnh, ba người chụm đầu vào nhau ăn. Hai đứa trẻ ăn đến nỗi môi nhuộm tím. Lam Di không dám cho chúng ăn nhiều, sợ đau bụng. Hương vị đặc biệt của quả dại trên núi khiến Lam Di nhung nhớ mãi. Cô rất thèm vị của chuối, táo, nho. Ở đây không có chuối táo, nho cũng chỉ có mấy dây leo trồng trong vườn. Trong thời đại không có nhà kính và giao thông kém phát triển này, trái cây ăn được rất hạn chế, gặp được loại nào đúng mùa thì phải ăn thật nhiều.
“Một ngựa phi nhanh, phi tử cười, nào ai biết trái vải đến từ đâu?” là đặc quyền của kẻ có tiền có quyền. Lam Di bây giờ chỉ có thể canh cây ăn quả, đợi quả chín thì ăn một lần cho đã, lần sau muốn ăn lại phải đợi sang năm quả chín. Nghĩ vậy, cô rất hiểu cái hào khí và niềm vui trong câu “Mỗi ngày ba trăm trái vải” của Tô Thức.
Ba người ăn dâu xong, nằm trên tấm drap giường mới mua. Tuy hơi nóng, nhưng Lam Di và Vũ Nhi vẫn kéo chăn thơm phức mùi nắng đắp lên người cười ngốc nghếch, cảm thấy hạnh phúc. Bảo Bảo vẫn chưa có cảm giác gì, chỉ biết bò qua bò lại trên người anh và mẹ, tưởng hai người đang chơi trốn tìm với nó.
Ngoài sân vọng ra tiếng mở cửa, Lam Di vội đứng dậy ra ngoài sân, thấy Đại Phúc nhảy chân sáo chạy vào.
“Bá nương ơi, ông nội bảo bác qua đây ạ.”
“Được, chúng ta đi ngay.” Lam Di nghĩ chắc là có tin tức về con lừa hay mảnh đất. Mấy hôm nay có chuyện gì, Nhị thúc đều mời Lam Di qua, vì cô ở góa, họ đến nhà có nhiều bất tiện.
Quả nhiên, Nhị thúc nói lừa ở chợ, con tốt phải bốn quan. Ông để ý một con lừa nhỏ vừa tròn một tuổi, đã thương lượng với người bán còn ba quan, hỏi cô có được không. Lam Di lập tức lấy bạc đưa cho Nhị thúc, để ông tự quyết.
“Chú ơi, trong làng mình có thợ nề nào rảnh không ạ? Cháu muốn nhờ người sửa lại cái nhà vệ sinh.” Đây là việc cô đã tính từ lâu, nhưng cứ bận rộn chưa có thời gian làm.
“Tìm ai, để thằng Lâm Hỉ nó làm, tay chân nó cũng nhanh nhẹn.” Vương Nhị thúc nói.
“Không được đâu ạ. Nhà chú đang bận xây nhà và tiệm dầu, cháu chẳng giúp được gì, sao có thể chiếm thêm em ấy đi sửa nhà vệ sinh cho cháu được.” Lam Di từ chối thẳng.
Vương Nhị thúc nghĩ cũng đúng, mình đang bận không xuể, bèn gật đầu, giúp cô chọn một người thợ nề thật thà trong làng.
Thợ nề họ Triệu. Lam Di vừa nói vừa ra hiệu cho ông, đào một cái hố rộng hai mét, dài ba mét, sâu hai mét ở phía bắc nhà vệ sinh. Đáy và bốn phía đều lát đá. Phía nam của hố thông xuống đáy bệ xí, để sau khi đi vệ sinh, phân sẽ trực tiếp theo ống dốc chảy xuống hố. Phía bắc của hố quây một khoảng nhỏ làm chuồng heo, có vài bậc thang nối xuống hố. Sau khi cải tạo như vậy, việc sử dụng nhà vệ sinh trở nên tiện lợi hơn nhiều. Cái hố vừa có thể nuôi heo, vừa để heo giẫm lên ủ phân, có thể nói là một công ba việc. Ở quê cô, có người nuôi heo cũng làm như vậy.
Sửa xong nhà vệ sinh, Lam Di lại nhờ bác Triệu xây thêm chuồng lừa cạnh chuồng dê. Lam Di và bác Triệu thỏa thuận không lo cơm, ông tự lo vật liệu và nhân công, tiền công cuối cùng thanh toán. Làm việc ở làng, thường thì một ngày được bao một bữa ăn, ngon dở tính sau. Nhưng Lam Di là đàn bà góa, không tiện giữ bác Triệu lại ăn cơm. Bác Triệu đương nhiên không ý kiến gì, Lam Di trả công cao, tay ông làm nhanh, ba ngày là xong hết.
Lưu thị và Trần thị mấy hôm nay thường hay sang chơi, một là để bầu bạn với Lam Di, hai cũng tò mò xem chị dâu cả lại có sáng kiến gì mới. Nhìn thấy cái hố ủ phân và nhà vệ sinh mới sửa, Lưu thị kéo ngay Lâm Viễn sang bảo anh ta làm y hệt ở sân nhà mới. Trần thị cũng gật đầu phụ họa, bảo Lâm Hỉ rảnh thì sửa lại chuồng heo nhà mình, cũng để ủ phân. Vô hình chung, quan hệ chị em dâu ba người lại càng thêm gần gũi.
Nuôi heo là để nó ủ phân, tiện thể cơm thừa canh cặn trong nhà cũng không phí. Cô nhớ có một vị đại học giả từng nói, chữ “Gia” là dưới mái nhà có một con heo, có heo mới thành nhà. Câu nói này tuy có hơi buồn cười, nhưng hình như có một chú heo con trong chuồng ụt ịt kêu cũng không tệ. Thôn Bắc Câu hầu như nhà nào cũng nuôi heo, để đến cuối năm làm thịt ăn Tết.
Đến khi nhà vệ sinh mới có thể sử dụng được, Lam Di thở phào nhẹ nhõm. Mấy hôm nay cô toàn mơ thấy đi tìm nhà vệ sinh, hoặc là không tìm được, hoặc là tìm được cái nhà vệ sinh bẩn thỉu vô cùng, không có chỗ đặt chân, khó chịu và ghê tởm khó tả.
Còn một vấn đề nữa, là ở đây không có giấy vệ sinh. Người trong làng phần lớn dùng tre mỏng, gỗ mỏng, đá nhỏ hay lá cây để thay giấy. Lam Di vào rừng chọn một loại lá cây, to bản, mềm mại, dai tốt. Rửa sạch phơi khô rồi để trong cái rổ tre nhỏ trong nhà vệ sinh, dùng làm giấy vệ sinh. Ngoài ra, cô để trong nhà vệ sinh một thùng nước và một cái gáo dừa, luôn có sẵn nước, sau khi đi vệ sinh thì dùng nước xối xuống hố. Như vậy coi như giải quyết triệt để vấn đề đi vệ sinh.
“Cái thời ngồi bồn cầu lướt điện thoại, một đi không trở lại rồi.” Lam Di dạy Vũ Nhi dùng nhà vệ sinh xong, nhìn vẻ mặt thích thú của nó, không khỏi cảm thán về khoảng cách thời đại.
Đến ngày chợ thôn Chu Gia, Nhị thúc dắt con lừa về, tiện thể mang cho Lam Di hai con heo đen nhỏ. Con lừa có lông màu đen xám, thân hình cân đối, mình ngắn, chân chắc khỏe, đầu ngẩng cao, mắt to có thần, nhìn một cái là thấy thích ngay.
“Cháu dâu à, con lừa này nhìn bé nhưng có sức đấy, chở người làm việc đều được. Chỉ cần thức ăn đầy đủ, nuôi thêm một năm nữa thì cũng không còn nhỏ nữa đâu.”
Lam Di ước lượng, lưng con lừa này vừa cao tới vai cô, nuôi thêm một năm chắc cũng chẳng to hơn bao nhiêu.
“Chú ơi, nhỏ một chút cũng tốt, cháu cũng kéo được.” Lam Di hài lòng nói. Nhỏ thì tốt, cưỡi cũng tiện, cô cũng không định bắt nó làm việc nặng nhọc gì, chỉ cần khuân vác được là được.
“Cỏ xanh, rơm rạ, thân lúa mì, dây đậu, lừa đều ăn. Mỗi ngày sáng tối trộn thêm hai lần cám lúa mì, cám gạo là được. Nước uống cũng không được thiếu. Con lừa này tính tình hiền lành, dễ sai khiến, nhưng cũng đừng có trái ý nó quá. Khi dạy dỗ cũng phải tránh bụng và chân.” Vương Nhị thúc dặn dò, “Người ta nói ‘tính bướng như lừa’, con vật này mà nổi khùng lên cũng dữ lắm. Cháu nuôi ít hôm rồi sẽ biết.”
“Vâng ạ. Chú ơi, thức ăn cho lừa, cháu định bảo nhà Chu Nhị Phát băm rơm lúa mì của ba mẫu ruộng đó đem sang, trừ vào một thành tô. Chú thấy thế nào ạ?”
Vương Nhị thúc gật đầu: “Cũng được. Rơm lúa mì của ba mẫu ruộng đó nuôi lừa nuôi dê cũng đủ ăn. Vài hôm nữa dây đậu dưới ruộng nhà mình thu về, cũng có thể ăn được một thời gian. Để chú đi nói với Nhị Phát, nó chắc vui vẻ nhận lời thôi. Mấy hôm nay chú đi dạo mấy quả đồi, để ý một chỗ ở phía đông thôn, gần con suối Hoa Khê. Tuy địa thế dốc, khai hoang trồng trọt hơi khó, nhưng trồng mẫu đơn thì chắc cũng tạm.”
Lam Di nghĩ đến chỗ phía đông thôn. Nhà cô bây giờ ở phía đông bắc thôn, chỗ đất hẹp và dài mà suối Hoa Khê chảy qua ở phía đông thôn quả thực không tồi. Địa thế tuy hơi dốc hơn phía nam thôn, nhưng trên đồi cỏ xanh um, đá cũng ít, chất đất chắc cũng tốt.
“Chú ơi, chỗ đó ít nhất cũng phải bốn năm chục mẫu chứ ạ?” Lam Di tính xem nên khoanh bao nhiêu đất cho phù hợp. Mẫu ở đây giống với hiện đại, một mẫu là sáu mươi vuông trượng. Lấy sáu mươi làm đơn vị cơ số, có liên quan đến cách tính lịch pháp cổ đại lấy sáu mươi làm một Giáp Tý.
“Chưa đo đạc, nhưng chắc cũng phải cỡ đó. Giá đồi núi liên quan đến nhiều hay ít đá. Chỗ đồi đó dốc hơn nhưng ít đá, giá đắt hơn một chút, năm trăm đồng một mẫu. Phía bắc thôn còn hai chỗ có thể khai hoang, rẻ hơn hơn trăm đồng một mẫu, nhưng không liền nhau.” Vương Nhị thúc giới thiệu. Ông thường ngày ít nói, nhưng trước mặt Lam Di lại hay nói nhiều hơn, một là để cô hiểu tình hình, hai cũng là càng ngày càng ưng ý cô cháu dâu này, không tự chủ được mà nói nhiều hơn.
Lam Di im lặng, tiểu nhân trong lòng bỗng nhiên nhảy vọt lên khỏi đỉnh đầu, giương cao lá cờ gào thét: “Năm trăm đồng một mẫu mà còn gọi là đắt? Biết rằng mua là có quyền sở hữu vĩnh viễn đấy!”
“Chú ơi, chú tính thế nào ạ?”
