Chương 6: Điểm Đạo
Đeo chiếc thắt lưng đã cải tiến từ tối qua, chiếc thắt lưng rộng hai ngón tay giờ có thêm vài túi nhỏ để đựng những vật dụng lặt vặt như túi nước, bật lửa, dao găm.
Tay cầm một con dao chặt củi.
Thu dọn xong, Tuệ Hòa lên đường. Cô không đi lung tung mà men theo con đường mòn có dấu chân. Sau khi đi vòng vèo gần một giờ, cô vẫn còn cách đỉnh núi một quãng.
Toàn bộ đường đi không thẳng mà vòng quanh sườn núi. Những con đường mòn dẫn sang các ngọn núi lân cận không rõ ràng, nhưng có thể thấy bẫy được bố trí.
Rõ ràng phạm vi săn bắn của cha nuôi khá rộng. Vì mục tiêu là lên núi, Tuệ Hòa không định qua đó mà tiếp tục đi thẳng.
Khi đến gần đỉnh núi, cô lần lượt phát hiện vài cái bẫy.
Nhìn qua, vài con mồi lẻ tẻ đã bắt đầu bốc mùi, ruồi nhặng vo ve quanh xác chết.
Tuệ Hòa vốn không định dọn dẹp, dù sao mùi thối rữa sẽ thu hút các loài ăn thịt khác, coi như mồi nhử miễn phí.
Nghĩ đến việc miếng thịt mình ăn phải rơi vào đống thịt thối có giòi bọ, trong lòng không khỏi buồn nôn.
Vẫn nên xử lý một chút, lỡ như con vật rơi xuống còn sống mà ăn những thứ đó, rồi cô lại ăn thịt con vật, bị đau bụng thì sao.
Ngoài giai đoạn đầu tận thế, những năm sau Tuệ Hòa nhờ tài vặt sạch mọi thứ mà sống khá sung túc.
Lúc này cô không khỏi thốt lên: “Từ tiết kiệm sang xa xỉ thì dễ, từ xa xỉ trở lại tiết kiệm mới khó!”
Tuệ Hòa treo túi vải nhỏ đựng thức ăn và túi nước lên cây, sợ dính bẩn.
Ước lượng độ sâu của bẫy, Tuệ Hòa tận dụng vật liệu xung quanh, làm một chiếc thang đơn giản để lên xuống. Sau khi dọn sạch chất bẩn dưới hố, cô lại cải tiến cái bẫy.
Đáy hố vốn đầy cọc gỗ nhọn giờ có thêm vài cây gậy nhọn khắc rãnh. Máu chảy nhanh sẽ khiến con mồi mất sức, dù may mắn thoát được cũng sẽ chết gần đó vì mất máu quá nhiều.
Cô ghi nhớ vị trí vài cái bẫy, sợ mình giẫm nhầm nên còn đánh dấu.
Khi lên đến đỉnh núi, mặt trời đã nhô lên. Nhìn dãy núi trập trùng, cô chỉ thấy lòng khoan khoái.
Cảm xúc này không kéo dài được bao lâu, Tuệ Hòa không quên mục đích hôm nay của mình.
Nghỉ ngơi một chút trên đỉnh núi, cô nhai nửa cái bánh rồi bắt đầu xuống núi.
Trên đường, cô phát hiện vài cây anh đào chín và cây tỳ bà.
Quả tỳ bà không to, màu vàng óng, dưới đất đã rụng một lớp. Cây cối quanh gốc cũng thưa thớt, có vẻ là điểm thu hái cố định.
Tuệ Hòa không ngại ngần hái đầy một giỏ trái cây. May mà mang theo, không thì phải đan ngay tại chỗ.
Dù có thể tận dụng vật liệu xung quanh, nhưng giỏ đan bằng cỏ tươi thì nhanh hỏng, sức chịu tải và độ bền đều kém, chỉ dùng tạm được.
Giỏ đan bằng cỏ khô thì nhẹ, bền và chịu lực tốt, nhưng tốn thời gian. Có người thợ khéo tay đan một cái giỏ cỏ có thể dùng được ba năm năm.
Tuệ Hòa tự nhận tay nghề mình không tệ, dù sao điều kiện sống cũng vậy, người nông thôn có thể tự làm được thì tuyệt đối không bỏ tiền ra mua.
Ở sườn núi có một rừng thông, quả thông không có hạt, nhưng dưới tán thông phủ đầy lá kim rất thích hợp cho nấm mọc.
Xách một giỏ trái cây về túp lều đất, tưởng rằng trưa nay phải ăn ngoài, không ngờ một chuyến đi lại nhanh đến bất ngờ.
Điều này nhờ vào thể chất của thân chủ cũ. Hai vợ chồng không dám để con bé một mình ở nhà, một là sợ nó bị va đập, hai là lo nó nghịch ngợm.
Dù mang theo sẽ ảnh hưởng đến việc thu hái, nhưng hai vợ chồng thà làm lâu hơn, ăn ít đi một chút còn hơn liều lĩnh.
Đợi khi con bé biết chạy, cũng theo chân vào núi thu hái mỗi ngày. Tuy ngốc nghếch nhưng cũng coi như một lao động, đôi chân rèn luyện cũng tốt.
Tuệ Hòa đun một ấm nước sôi, rót một bát, xé nửa cái bánh còn lại thành từng miếng nhỏ, dùng đũa khuấy đều, chờ nó nở ra.
Phần nước nóng còn lại, cô dùng khăn lau mặt và người. Lên núi xuống rừng, ai từng làm nông đều biết, sau một buổi sáng, bụi bặm, cỏ rác trộn với mồ hôi, người dính nhớp nháp vô cùng.
Trước tận thế, Tuệ Hòa cũng từng đi làm thuê trong mùa nông vụ để kiếm thêm chút tiền, cũng để gần gũi với dân làng.
Khi còn nhỏ thì nhổ mạ, trông trẻ con trong làng, mùa gặt thì phụ chuyển lúa, lớn hơn chút nữa thì theo cấy lúa, đập lúa.
Người ta thương cô bé mồ côi sống khổ, ngoài cho cô bữa ăn, còn may quần áo cho cô và dạy cô vài kỹ năng sinh tồn.
Đan giỏ là do người trong làng dạy. Tuệ Hòa thật lòng biết ơn họ, ngày thường ai trong làng có bệnh tật gì, cô đều giúp đi hái thuốc.
Tiếc là tận thế ập đến, nếu không thì cứ bình đạm sống hết đời cũng là một hạnh phúc.
“Cùng thì độc thiện kỳ thân, đạt thì kiêm tế thiên hạ.”
Dù mọi người không học chữ, không biết câu này, nhưng khi bản thân còn đủ ăn đủ mặc, họ đều tỏa ra chút thiện lương nhỏ nhoi của mình.
Tắm rửa sạch sẽ xong, Tuệ Hòa cảm thấy dễ chịu hơn. Bánh đã nở thành bột nhão, nhiệt độ vừa phải. Bánh làm từ ngũ cốc thô sau khi ngâm nước thì ăn không ngon.
Nhưng Tuệ Hòa vẫn từ từ nuốt từng miếng. Ăn xong, cô không định nghỉ trưa mà nghỉ một chút rồi bắt tay vào xử lý anh đào và tỳ bà.
Anh đào có thể nấu thành mứt, tỳ bà có thể làm thành quả khô hoặc mứt, nhưng nhà không có đường, đành bỏ hạt rồi làm quả khô.
Làm xong có thể mang ra chợ đổi lấy lương thực chính và gia vị. Đồ ăn bảo quản được luôn được ưa chuộng.
Những thứ này thuộc loại bán chạy, người biết làm cũng không ít. Có người thu mua rồi chuyển tay bán lên thành phố, cũng là một khoản thu nhập kha khá.
Nếu là thời cổ đại khi lương thực khan hiếm, còn có thể coi là cơ hội phát tài.
Nhưng ở đây thì hoàn toàn không thể. Dù sau thiên tai văn minh bị đứt gãy, nhưng với người Hoa, gen sành ăn và gen trồng trọt đã khắc sâu vào xương tủy.
Dù sau tận thế, các chủng tộc lai máu, những người mang dòng máu Hoa vẫn đặc biệt nhạy cảm với ẩm thực, ăn uống càng thêm đa dạng.
Mứt quả và quả khô này làm ra chẳng ai nỡ ăn, vì phải tốn khá nhiều đường và thời gian chế biến.
Nhà thường không có thời gian rảnh để làm đồ ăn vặt, họ đều bán cho thương lái, rồi bán lên thành phố cho nhà giàu đổi khẩu vị.
Tuệ Hòa định hái sạch mấy cây sau núi, quả đẹp thì đem bán, quả xấu thì làm quả khô, rồi đổi lấy lương thực, chứ lương thực trong nhà không đủ ăn.
Dù có thể bẫy được thú, nhưng thịt không thể làm thức ăn chính được, mà ăn thịt không ăn tinh bột rất dễ bị táo bón, và có nguy cơ thành người bị trĩ.
Bỏ cuống, rửa sạch, bỏ hạt, chẳng mất công mấy là xong.
Vì hái không nhiều, toàn chọn quả to và đẹp, hầu như không có quả hỏng.
Tuệ Hòa lấy một cái nia, rải đều anh đào và tỳ bà đã sơ chế lên, rồi bưng ra phơi trên giá ngoài sân.
Trên giá ngoài mấy quả tỳ bà vừa mới phơi, còn có vài cái nia đựng nấm khô và rau dại đã phơi khô.
Hôm qua không để ý, thầm nghĩ may mà không mưa, nếu không thì phí mất.
Cho nấm khô vào túi vải nhỏ, còn rau khô thì để thêm hai ngày trên giá. Rau khô vừa phơi xong không thể buộc lại ngay, sẽ bị vụn.
Để nơi thoáng mát cho mềm ra một hai ngày, rồi dùng dây vải buộc lại, bỏ vào hũ, có thể bảo quản được lâu.
Đó cũng là loại rau hiếm có trong mùa đông.
