Chương 2: Âm Gian Show
Khi màn đêm buông xuống, xe cộ thưa thớt, con đường rộng lớn mới phơi bày những vết thương của chính nó, những vết thương mà ban ngày bị che lấp bởi đủ thứ chèn ép.
Tuy tôi chỉ là một thám tử hạng ba, nhưng vì tôn trọng nghề nghiệp, tôi luôn dốc toàn lực cho mỗi đơn hàng.
Muốn biết cô gái có nói dối hay không, cách đơn giản nhất là tự mình đến đường Vô Đăng vào thời điểm thích hợp, tìm kiếm Âm Gian Show trong quảng cáo.
Mở máy tính lên tra, đường Vô Đăng ở Giang Thành quả thực có tồn tại.
Trong miệng những người già Giang Thành, con đường này còn có một cái tên rất đặc biệt khác – "Loa Kết Đỉnh".
"Loa Kết Đỉnh" thực ra là âm đọc trại của "Lũy Thi Cập Đỉnh" (chất xác cao tới nóc). Trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật, nơi đây là trường giết người lớn nhất Giang Thành, xác người chồng chất lên nhau, cuối cùng cao tới tận nóc nhà. Dân cư gần đó nói, nơi này không thể lắp đèn đường, hễ lắp là hôm sau sẽ tắt, không phải bị người ta tắt, mà tự nhiên tắt.
Bóng đèn tháo ra vẫn còn tốt, nhưng dây tóc bên trong đã đứt. Sau đó không ai dám lắp bóng mới nữa. Đi trong ngõ mà bật đèn pin cũng tự nhiên tắt. Bất cứ thứ gì dùng điện vào ban đêm trong ngõ đều không dùng được, xe máy, xe điện đều phải đẩy bộ.
Nhà gần đó ban đêm thường không ra ngoài. Cho nên nếu ban đêm gặp một người ở "Loa Kết Đỉnh" – thì chưa chắc đã là người.
"Công ty đặt ở chỗ này, đúng là xứng với cái tên Âm Gian Show của nó." Nói thẳng ra, tôi là một người vô thần coi logic là trên hết. Sau một buổi chiều thu thập tài liệu, tôi càng khẳng định đây chỉ là một trò đùa không cao tay.
"Thật hay giả, tối nay sẽ rõ." Thay đồ thường, nhét quảng cáo và bình xịt điện chống côn đồ vào túi quần, đạp xe đến đích.
Đường Vô Đăng nằm ở khu phố cổ. Khi tôi đến nơi, trời đã tối, trên không còn lất phất mưa phùn.
"Đúng là không may." Trời mưa ẩm, bình xịt điện dễ làm hại chính mình, nếu gặp phải kẻ xấu thì ngượng chết.
Lang thang trong những con ngõ ngoằn ngoèo, hai bên là những tòa nhà cũ kỹ. Người dân địa phương tỏ ra rất không thân thiện với kẻ lạ mặt như tôi. Hễ lên hỏi, chỉ cần nhắc đến ba chữ "đường Vô Đăng" là họ vẫy tay rồi vội vàng bỏ đi.
Không một gợi ý nào, tôi như con ruồi mất đầu, loanh quanh mãi đến hơn mười giờ tối vẫn chưa tìm thấy con đường Vô Đăng trong truyền thuyết.
Mưa càng lúc càng lớn, trời đất mờ mịt sương khói. Tôi muốn tìm chỗ trú mưa, nhưng xung quanh chẳng có lấy một cửa hàng tử tế.
Mấy mặt tiền ít ỏi, trong tiệm lại bày toàn nhà giấy, ngựa giấy, vòng hoa, áo quan, rõ ràng là buôn bán đồ cho người chết.
Mưa càng ngày càng to, hết cách, tôi đành liều mình chui vào tiệm bán đồ tang. Nhưng tôi còn không ngờ, vừa qua 11 giờ, chủ tiệm đã tắt hết đèn điện, thắp hai cây nến trắng, đưa cho tôi một cái dù đen dùng khi đi tảo mộ, rồi giục tôi đi.
"Mấy người này đúng là kỳ quặc." Chống ô đen, đứng trong mưa, nhìn ra xa, cả con ngõ không một tia sáng.
"Đường Vô Đăng?" Tôi bỗng dưng rùng mình, đi một mình hơn hai mươi phút, vòng qua vòng lại cuối cùng lạc đường. Đang lúc móc điện thoại ra định gọi cảnh sát nhờ giúp đỡ, thì tình cờ thấy một bà lão ở đối diện đường đang vẫy tay về phía tôi.
"Trời tối mưa to, sao bà ấy lại ở ngoài một mình? Người nhà bà ấy đâu?"
Nước mưa thấm ướt áo bà lão, bà cô đơn, trông còn thảm hơn tôi nhiều.
Bà sốt sắng vẫy tay, tôi vội vàng lại gần che ô cho bà: "Bà ơi, cháu..."
Một tia chớp lóe lên, tôi cúi xuống vừa lúc thấy khuôn mặt ngước lên của bà lão, trắng bệch không chút máu, những nếp nhăn từ tứ phía bò ra như miếng da đậu phụ gấp lại, trải đầy khuôn mặt già nua.
"Tôi làm mất đồ rồi, cháu mau giúp tôi tìm đi."
Giọng bà run run yếu ớt, như sắp lìa đời, đây là lời thỉnh cầu cuối cùng trước khi tắt thở.
Tôi ép mình bình tĩnh lại: "Bà đừng vội, bà làm mất gì ạ?"
Đôi mắt đục ngầu của bà lão đảo qua hai bên: "Tôi làm mất đứa cháu trai rồi, ngay trong con ngõ này."
Bà chỉ vào con đường tối om, như bị ma ám, lảo đảo đi vào bên trong.
"Cháu trai? Người sống?" Không hiểu sao, tôi nhớ tới đủ thứ đồn đại trên mạng về đường Vô Đăng, nhìn theo bóng lưng bà lão, lông tơ dựng đứng.
"Không thể nào, cái gọi ma quỷ thần phật đều là tự dọa mình. Tình trạng hiện tại của tôi chắc là do môi trường đặc thù kích hoạt phản ứng bản năng của con người trước những sự kiện bất định." Khi đối mặt với nguy hiểm, cơ thể con người sẽ sản sinh ra một cơ chế tự bảo vệ, đó là sợ hãi và trốn tránh.
"Phản ứng của người dân địa phương kết hợp với đồn thổi trên mạng, còn có bà lão trước mắt, hành vi của họ đều toát lên sự kỳ quặc, như thể cố tình tạo ra một bầu không khí đáng sợ." Không tin tà, tôi vẫn cho rằng đây là một trò đùa. Bây giờ nhiều chương trình giải trí để đạt rating không từ thủ đoạn, đủ loại chương trình nặng mùi xuất hiện không ngừng. Biết đâu ở nơi tôi không biết, lúc này đang có mười mấy máy quay ghi hình toàn bộ quá trình.
Nghĩ vậy, nỗi sợ giảm đi nhiều. Tôi che ô cùng bà lão đi sâu vào trong ngõ.
Một lúc lâu sau, tôi đã lạc đường, đành liều mạng. Bà lão thì đi một lúc bỗng nhiên dừng lại.
"Cháu yêu quý, lần sau đừng chạy lung tung nữa nhé..."
"Tìm thấy rồi ạ?" Tôi hơi ngạc nhiên, nhìn theo ánh mắt bà lão, mắt tôi dần mở to.
Trên bậc thềm lạnh lẽo nằm một con búp bê vải ướt sũng, rách nát!
Bà lão âu yếm ôm lấy con búp bê, không màng đến bùn đất và vết nước, cẩn thận như đang đối xử với một đứa trẻ sơ sinh.
"Bà, bà ấy bị điên?!" Tôi vậy mà lại đi theo một bà già điên trong đêm mưa suốt hơn một tiếng đồng hồ!
"Ô, ô, búp bê, đừng giận nhé, ta xin lỗi con. Lúc nãy không nên nổi cáu, quăng con mạnh quá. Làm bẩn áo hoa mới của con, mặt con lấm lem bùn. Chắc còn đau lắm phải không? Thật xin lỗi! Áo bẩn ta phủi cho con, mặt bẩn ta lau cho con. Chỗ nào đau ta xoa cho con, từ nay về sau, chúng ta không xa nhau nữa."
Bà lão ôm con búp bê, vừa hát đồng dao vừa đi xa. Tôi ngoài cười khổ còn có chút thương cảm cho bà. Tuổi ngoài thất thập, người bên cạnh chỉ có một con rối rách nát.
Nghĩ vậy, tôi đuổi theo, nhét chiếc dù đen vào tay bà: "Mưa to, bà cầm ô đi, về nhà nhanh kẻo lạnh."
Bà lão nhận ô, sững người một lát.
"Bà đi đường cẩn thận, cháu chào bà." Nước mưa thấm ướt quần áo, tôi trú mưa trên bậc thềm nhặt được búp bê. Đó là một tòa nhà ba tầng, cửa cầu thang có một mái che cũ kỹ.
"Vì bảy chục tệ, tôi cũng liều thật." Đơn hàng vẫn mù mịt, tôi ngồi xổm xuống, theo thói quen muốn châm một điếu thuốc. Nhưng ngay khi bật lửa sáng lên, tôi thấy tấm biển số trên tường ngoài tòa nhà – "Đường Vô Đăng số 44".
Ngọn lửa tắt ngay. Tôi móc tấm thẻ nhỏ ra, dí sát mặt vào xem đi xem lại: "Không đời nào trùng hợp thế chứ?"
Núi cao sông dài tưởng hết đường, liễu rợp hoa tươi lại một làng. Đúng là nơi tôi cần tìm.
"Địa chỉ trong quảng cáo quả thực tồn tại, mọi chuyện càng thú vị hơn rồi." Tay tôi ấn công tắc bình xịt điện, vừa định bước vào cầu thang thì áo bỗng bị kéo.
"Ai!"
Quay người rút bình xịt điện ra, tia lửa điện lách tách sáng rõ trong màn đêm.
"Bà ơi?" Bà lão ôm con búp bê không biết đã đứng sau lưng tôi từ lúc nào. Người từng đạt điểm A+ về kỹ năng thực chiến trong trường cảnh sát như tôi vậy mà hoàn toàn không phát hiện.
"Này chàng trai, trời tối, đừng có chạy lung tung." Bà lão dùng thân mình che khuất tầm nhìn của con búp bê, như vô tình từ trong tay áo rơi ra một chiếc khăn tay.
"Chuột nhắt, leo cây đèn, ăn trộm dầu, trèo không lên. Meo meo meo, mèo tới rồi, kít kít kít, lăn xuống đất..."
Vừa hát đồng dao, vừa dỗ con rối trong lòng, bà lão biến mất trong màn mưa đêm.
Tôi nhặt chiếc khăn tay bà để lại, màu trắng tinh, như dải lụa trắng dùng để treo cổ. Đưa lên trước mắt, trên đó còn có một bài thơ ngắn cổ kính.
"Ốc duy cùng thậm nan phao họa,
Nội sự do lai tại đế hương.
Hữu tử thụ ân tu hữu địa,
Quỷ gian vô lộ tâm mang mang."
Đọc hai lần, mồ hôi lạnh tôi đã túa ra. Đây là một bài thơ tàng hình, ghép chữ đầu mỗi dòng lại với nhau, đó là – "Ốc nội hữu quỷ" (Trong nhà có ma)!
"Rốt cuộc bà ấy có bị điên không?" Kết hợp với lời nói trước đó của bà lão, ý bà muốn truyền đạt đã rất rõ ràng. Tuy ẩn ý, nhưng ít nhất về mặt logic thì không có vấn đề.
"Trên đời này thực sự có ma sao?" Nhìn vào cầu thang tối om, tôi do dự một lát rồi vẫn bước vào.
Đối với một thám tử, thứ hấp dẫn anh ta nhất không bao giờ là kết quả, mà là quá trình giải mã những điều chưa biết.
Đôi mắt tôi dần quen với bóng tối, mò mẫm theo bức tường loang lổ, men theo cầu thang đi xuống tầng hầm.
"Đường Vô Đăng số 44, tầng hầm tầng 4, phòng 444..."
