Chương 63: Trạm xăng bỏ hoang
Chiều tối, đoàn xe đến điểm dừng chân đầu tiên mà anh Triệu đánh dấu trên bản đồ - trạm xăng bỏ hoang.
Mái che của trạm xăng vẫn còn, khung thép tuy đã han gỉ nhưng nhìn chung chưa sụp đổ. Cửa cửa hàng tiện lợi đã bị cạy phá, kính vỡ vương vãi khắp nơi, giá hàng đổ nghiêng ngả, dưới đất rải rác những chai nước rỗng bẹp dúm và vài gói khoai tây chiên hết hạn bị lãng quên trong góc. Anh Triệu đỗ xe trước cửa hàng tiện lợi, xuống xe đi vòng quanh trạm xăng kiểm tra từng cây cột chống và từng góc khuất có thể giấu xác sống. Sau đó, anh quay lại chỗ đoàn xe và bắt đầu phân công nhiệm vụ, không phải bàn bạc mà là ra lệnh.
"Xe xếp thành hình bán nguyệt, xe đầu nằm bên trái, xe buýt cỡ vừa ở giữa, xe bán tải lấp vào khoảng trống bên phải. Bình xăng hướng ra ngoài, lốp xe dùng dây thép và lốp cũ để lấp khe hở. Tối nay chia hai ca gác, nửa đêm trước tôi trực, nửa đêm sau Trần Minh thay. Tất cả mọi người khi ngủ không được rời khỏi khu vực dưới mái che của trạm xăng, dù nghe thấy tiếng gì cũng không được tự ý tách đoàn."
Giọng anh không to, nhưng từng chữ như những chiếc đinh thép đã được mài giũa kỹ càng, đóng chặt vào tai mỗi người. Trần Minh đang chuyển túi ngủ từ thùng xe bán tải xuống, nghe thấy mình được phân công gác nửa đêm sau, động tác khựng lại một chút, rồi gật đầu tiếp tục chuyển. Tiểu Triết nhảy xuống từ chiếc xe địa hình, ôm con thỏ đứng bên cạnh xe, nhìn người lớn bận rộn qua lại, không chạy lung tung cũng không làm nũng.
Chú Vương lục trong hộp dụng cụ tìm ra mấy cái vòi xăng cũ và ống mềm. Sau một chặng đường dài, lượng xăng trong mỗi xe đều tụt xuống một mảng lớn, ông phải tranh thủ trời tối để đổ đầy bình xăng đầu tiên. Bồn chứa của trạm xăng đã cạn từ lâu, nhưng trong bình phụ của xe buýt và xe bán tải vẫn còn xăng dự trữ. Ông tìm mấy cái thùng rỗng, dùng dụng cụ hút xăng chế từ vòi xăng bỏ đi để điều phối lại lượng xăng giữa các xe. Ngồi xổm không thoải mái, ông đành quỳ xuống đất, một tay giữ đầu nối ống, tay kia lắc tay bơm, động tác không nhanh nhưng cực kỳ chắc chắn. Xăng còn lại trong bình chảy theo ống mềm vào thùng rỗng, mùi dầu diesel lan tỏa trong không khí lạnh của buổi chiều tà.
Chị Lưu dựng một cái bếp tạm trước cửa hàng tiện lợi, mấy viên gạch xếp thành bếp, trên đặt một cái nồi sắt nhỏ. Chị lục trong đống vật tư trên xe tìm ra một nắm mì khô và nửa cây cải bẹ xanh được bọc trong túi nilon, rồi cắt thêm mười mấy lát mỏng từ cây xúc xích còn lại lúc trưa bỏ vào nồi. Nước nhanh chóng sôi, mì trào lên trong nước sôi, lá cải dần mềm ra, mùi thơm mặn của xúc xích hòa quyện với mùi lúa mì của mì, theo mái che của trạm xăng bay ra ngoài, khiến Tiểu Triết ôm thỏ đứng bên nồi không chịu rời.
"Cẩn thận nóng đấy." Chị Lưu dùng đũa gắp mì ra, chia vào mấy chiếc bát men, mỗi bát múc thêm nửa thìa nước dùng, rau cải và xúc xích cũng được xếp đều lên trên mặt bát. Bát đầu tiên đưa cho Tiểu Triết, cậu bé đã có thể ngồi dậy tự bưng bát khi có người đỡ, tuy tay vẫn còn hơi run nhưng vẫn tự bưng đáy bát không để người khác đút. Tiếp theo là chú Vương, Trần Minh, anh Triệu. Khi Tô Niệm nhận bát của mình, chị Lưu khẽ nói bên tai cô: "Trong nồi vẫn còn nửa bát cháo cho bé đấy." Tô Niệm gật đầu, bưng bát đi đến ngồi trên một chiếc lốp xe cũ trước cửa hàng tiện lợi. Tiểu Triết bưng bát nhỏ của mình chen vào ngồi cạnh chị, dùng đũa không thạo, liền đặt đũa lên thành bát, cúi đầu húp soàn soạt. Uống vài ngụm, ngẩng đầu lên thở dài một tiếng, nói hôm nay cơm ngon quá.
Cậu bé đã quen với ngày tận thế. Trước đây còn nghiêng đầu hỏi tại sao ban đêm không được bật đèn, tại sao không được ra ngoài chơi với bạn bè, bây giờ thì không hỏi nữa. Chỉ khi ăn được bữa cơm nóng thì khẽ nói một câu ngon quá, khi ôm thỏ thì dựa vào người chị, trước khi ngủ thì đưa góc chăn của mình cho đứa bạn chưa ngủ. Nói xong câu đó, cậu lại vùi mặt vào bát, con thỏ đặt trên đầu gối, tai rủ xuống chạm vào thành bát suýt rơi vào canh, cậu vội nhặt lên dùng tay áo lau khô.
Tô Niệm cúi nhìn bát mì chỉ còn lại vài ngụm nước canh của em, đưa bát mình qua, múc nửa bát mì còn lại trong nồi đổ vào bát em. Cậu bé sững lại một chút, rồi gắp miếng xúc xích lớn nhất trong bát bỏ vào bát chị. Tô Niệm không từ chối. Cô cho miếng xúc xích vào miệng nhai chậm rãi.
Đêm khuya, trạm xăng dần yên tĩnh. Chú Vương cuộn người ngủ gật trên ghế phụ; Chị Lưu ôm bé nằm trên một tấm đệm hơi, hơi thở đều đều; Trần Minh ngồi trên bậc thềm xi măng trước cửa hàng tiện lợi, trên đầu gối đặt một cuốn sổ ghi chép về thực vật học đã sắp rách. Anh lật vài trang dưới ánh đèn pin yếu ớt, rồi viết vài dòng vào chỗ trống, chắc là lại ghi chép về những loài thực vật biến dị nhìn thấy dọc đường. Viết xong, anh đậy nắp bút, ngẩng đầu nhìn về phía nhà vệ sinh công cộng bỏ hoang đen kịt phía sau trạm xăng.
Từ nhà vệ sinh vọng ra một âm thanh cực nhỏ. Không phải tiếng gió, mà là tiếng ma sát của bàn chân giẫm lên gạch vỡ, rất khẽ, nhưng có nhịp điệu. Trần Minh gấp cuốn sổ lại, rút từ thắt lưng con dao găm mà Tô Niệm phát cho mỗi người lớn, đứng dậy chậm rãi đi về hướng đó. Anh đi không được thong dong lắm, bàn tay nắm dao găm gân guốc trắng bệch, nhưng bước chân không dừng lại.
Ánh đèn pin quét qua bức tường đổ nát trước cửa nhà vệ sinh, chiếu vào một đôi mắt phản quang. Một con chó đột biến to lớn đang ngoạm nửa xác một con xác sống kéo ra ngoài, kích thước ít nhất gấp đôi giống chó Đan Mạch trước ngày tận thế, bộ lông lốm đốm, xương bả vai nhô ra, đuôi cụp xuống không động đậy. Nó nhả miếng thịt thối trong miệng ra, quay đầu nhìn Trần Minh khoảng ba giây. Trần Minh không lùi lại, cũng không giơ dao, anh chỉ đứng yên nhìn nó.
Con chó đột biến không tấn công. Nó lại ngoạm lấy nửa xác con xác sống, quay người biến mất trong màn đêm, tiếng bước chân từ gần đến xa, cuối cùng chỉ còn lại tiếng gió rít qua đống đổ nát hoang vắng. Trần Minh nắm chặt con dao găm đứng rất lâu mới thả lỏng. Anh quay lại bậc thềm trước cửa hàng tiện lợi ngồi xuống, cầm bút lên nhưng trang sổ đã lật qua, anh không viết tiếp, chỉ ngồi yên tại chỗ, đặt con dao găm lên đầu gối. Anh cúi nhìn bàn tay mình, không hề run rẩy.
