Chương 32: Trò chuyện
Từ Tiểu Ngôn nghiêng người che chắn tầm nhìn có thể hướng về phía mình, nhanh chóng nhét một gói bánh quy nén vào tay người thanh niên lấm lem bụi đất. Anh ta bất ngờ nắm chặt, bánh quy biến mất trong tay áo.
Anh ta lập tức quay người, tiếp tục khiêng gỗ như không có chuyện gì. Cô cứ như chỉ đi ngang qua nghỉ chân, tự nhiên bước đến sau đống đổ nát, cúi xuống nhặt năm tấm ván nặng trịch, kéo lê đi về. Lúc này chọn hang động có sẵn không nhiều người, dọc đường cũng chẳng gặp ai.
Đặt ván xuống, cô đi thẳng về phía người đàn ông trung niên đang cố nhét một tấm biển quảng cáo khổng lồ vào hang động trên tầng hai. “Chú ơi,” giọng Từ Tiểu Ngôn pha chút ghen tị và bất lực vừa phải, “Chú may thật đấy, thứ này chắn gió hơn hẳn. Cháu loay hoay mãi chẳng tìm được gì tốt, trong hang vẫn gió lùa.”
Người đàn ông đang vất vả với tấm biển nhựa, nghe vậy càu nhàu: “May gì mà may, vừa to vừa nặng, không biết cố định thế nào!”
“Ừ, to quá cũng khó,” Từ Tiểu Ngôn phụ họa, rồi chuyển giọng: “Cháu thấy cái hang của chú không cần to thế đâu, chắc phải cắt bớt nhỉ. Tiếc thật… mấy mảnh vụn nếu cho cháu, cháu ít ra cũng nhét được cái khe to trên miệng hang.”
Người đàn ông dừng tay, nhìn tấm biển quảng cáo khổng lồ, có vẻ thấy cô nói có lý, mảnh vụn đúng là vô dụng. Ông gật đầu: “Mảnh vụn thì cho được, nhưng cháu lấy gì đổi?”
Từ Tiểu Ngôn lôi từ túi trong ra một gói bánh quy nén: “Cháu đổi lấy phần chú cắt ra đủ che một cái lỗ rộng một mét, lấy chỗ dày nhất, được không?” Giọng cô khẩn thiết như liều một phen, thể hiện sự yếu thế vừa đủ.
Cả một gói bánh quy nén là sức hút lớn. Mắt người đàn ông sáng lên, nhanh chóng nhận lấy nhét vào ngực, thái độ bỗng nhiệt tình hơn hẳn: “Được! Cháu gái biết điều! Chờ đấy, chú cắt ngay!” Ông tìm một miếng kim loại sắc, ướm vào góc phải dưới cùng chắc chắn nhất của tấm biển, dùng lực rạch, cắt ra một mảnh nhựa dày hình vuông cỡ mét hai.
“Đây, đủ dùng rồi đấy! Thừa thì nhét khe!” Ông đưa tấm nhựa cho Từ Tiểu Ngôn.
“Cảm ơn chú!” Từ Tiểu Ngôn cảm ơn, ôm tấm nhựa, nhanh chóng rời đi.
Về đến hang, cô lập tức bắt tay vào sửa cửa.
Đầu tiên, cô dùng dây gai nhặt được buộc chặt bốn tấm ván dài ngắn khác nhau thành một khung cửa hình chữ nhật hơi xiêu vẹo nhưng đủ chắc.
Tiếp đó, cột thêm một thanh gỗ dài theo đường chéo khung cửa, tạo thành thanh chống xiên ổn định, tăng cường độ vững cho toàn bộ khung.
Sau đó, cô đặt khung gỗ tự chế vào miệng hang, dùng lực nêm hai đầu trên dưới vào khe đất tự nhiên. Chỗ nào không khít, cô dùng đá nhọn kiên nhẫn đục rãnh nông trên vách đất cứng lạnh, từ từ điều chỉnh và cố định khung, đảm bảo nó kẹp chặt vào miệng hang, tạo thành một tấm chắn vững chắc.
Cuối cùng, Từ Tiểu Ngôn trải tấm nhựa dày lên khung gỗ, cẩn thận quấn mép nhựa quanh khung, dùng dây thừa và đá nhỏ cố định nhiều lớp ở phía sau, ép chặt, đảm bảo dù gió lớn cũng không bị tốc.
Từ Tiểu Ngôn đứng trước miệng hang vừa có chắn, không hề cảm thấy nhẹ nhõm. Độ sâu hai mét của hang như một đường vô hình, rạch rõ ranh giới an toàn của cô, cũng nhắc nhở cô về sự chật hẹp của không gian này. Nhất là nghĩ đến đợt rét sắp tràn xuống phía nam, hang nông thế này không thể tích đủ nhiệt, một khi nhiệt độ giảm mạnh, nơi đây sẽ lạnh như hầm băng.
Cô lấy xẻng, chọn góc sâu nhất trong hang, bắt đầu đào từng xẻng, dùng lực đập vào vách đất cứng lạnh. Việc đào khó hơn tưởng tượng, đất đá vụn rơi lộp bộp, nhanh chóng tụ thành đống nhỏ dưới chân. Mới đào chưa đầy hai mươi phút, sau lưng bỗng vang lên hai tiếng gõ “cộc cộc” trầm đục, ngay giữa tấm cửa nhựa cô vừa cố định.
Từ Tiểu Ngôn khựng lại, toàn thân căng cứng. Cô nín thở, lắng nghe. Bên ngoài vọng vào giọng nam hơi lúng túng: “Xin… xin lỗi, có ai ở trong không ạ?”
Cô siết chặt xẻng, từ từ bước ra cửa, không kéo hẳn, chỉ hé một khe nhựa, cảnh giác nhìn ra.
Thấy một người đàn ông trạc hai mươi, mặc áo khoác mỏng, mũi đỏ vì lạnh, mặt đầy vẻ bối rối và lo lắng. Phía sau anh ta, vài người đang rướn cổ nhìn về phía này. Hang của họ cũng trống hoác như hang cô trước kia, không chút riêng tư.
Thấy Từ Tiểu Ngôn, người đàn ông như thấy cứu tinh, vội nói: “Xin lỗi đã làm phiền, tôi… tôi ở ngay hang bên cạnh.” Anh chỉ vào hang không cửa bên cạnh. “Mấy người chúng tôi mới chuyển đến, phát hiện… cái hang này không có cửa! Tối nay biết làm sao? Thấy cô làm cửa, nên sang hỏi thử, cái cửa này… lấy ở đâu vậy?”
Câu hỏi của anh lập tức gây đồng tình với mấy người phía sau. “Phải đấy cô gái, không có che chắn, lòng không yên!” “Gió cứ thổi vào, chẳng ở được.” “Trại có phát không?”
Từ Tiểu Ngôn nhìn mấy khuôn mặt giày vò vì lạnh và lo lắng, hiểu rõ. Cô hơi nới lỏng tay nắm xẻng, nhưng vẫn giữ khoảng cách, trả lời ngắn gọn: “Trại không phát, tôi tự làm, đổi vật liệu bằng thức ăn.”
“Thức ăn?” Người đàn ông sững lại, rồi mắt anh hiện lên vẻ kinh ngạc tột độ, sau đó là hiểu ra, cuối cùng lắng xuống thành cảm xúc phức tạp, pha lẫn ghen tị và bất lực. Anh quay lại trao đổi ánh mắt với mấy người kia, tất cả đều im lặng.
“Thức ăn…” Người đàn ông lẩm bẩm lặp lại, như đã hoàn toàn hiểu quy tắc sinh tồn nơi đây. Anh thở dài, gật đầu với Từ Tiểu Ngôn: “Hiểu rồi… Cảm ơn cô nhé, cô gái. Không làm phiền nữa.”
Họ không hỏi thêm cụ thể đổi thức ăn gì, với ai, vì điều đó không còn quan trọng. Quan trọng là hai chữ “thức ăn” tự thân nó đã mang sức nặng và giá trị trao đổi. Trong cái trại tạm bợ thiếu thốn, trật tự mới hình thành này, đó gần như là quy tắc thông hành: có vật tư, đổi được nhiều thứ. Mấy người hậm hực giải tán.
Từ Tiểu Ngôn kéo rèm nhựa, lại cầm xẻng, quay vào sâu trong hang tiếp tục đào. Tiếng xẻng va vào đất vang vọng trong không gian chật hẹp.
Sáng hôm sau, Từ Tiểu Ngôn ngước nhìn bầu trời xám xịt. Gió lạnh cuốn lá khô bay xoắn, rát mặt như dao cắt. Đợt rét sắp đến, nghĩa là nhiệt độ sẽ giảm mạnh. Nếu không chuẩn bị đủ củi trước, e khó qua nổi giá rét. Cô rụt cổ, kéo chặt chiếc áo khoác mỏng.
Từ Tiểu Ngôn thu hết đồ vào không gian. Dù hang này kín đáo, khó tránh có kẻ lẻn vào khi cô vắng mặt. Xong xuôi, cô đeo ba lô, kiểm tra miệng hang đã ngụy trang kỹ, rồi bước ra ngoài.
Ngọn núi đối diện là khu quân đội cấp cho người sống sót tự đào hang. Nhìn xa, vách núi chi chít cửa hang đủ kích cỡ như tổ ong. Giữa hai ngọn núi là quảng trường giao dịch. Mặt đất tuy bị động đất làm lồi lõm, nứt nẻ, nhưng vẫn thấy dấu vết từng là bãi đỗ xe.
