Chương 33: Về nhà
Vì bệnh viện không một bóng người, xác sống cũng chẳng còn được mấy, đã đến đây thì không thể chỉ lấy chút thuốc trong nhà thuốc.
Nhâm Tâm Nhu quét sạch nhà thuốc đông y, nhà thuốc phòng cấp cứu, ngân hàng máu, cùng toàn bộ dụng cụ y tế đã khử trùng.
Sau đó, cô đi thang máy qua bốn tòa nhà khu nội trú, tầng nào cô cũng không bỏ sót thuốc men, dịch truyền, dụng cụ ở trạm y tá, kể cả thuốc gây mê cất trong phòng phẫu thuật.
Giường bệnh thông minh, xe lăn, bất cứ thứ gì cô nghĩ sau này ông già yếu vẫn dùng đến, đều thu vào không gian.
Đi ngang khoa răng, cô thu luôn dụng cụ chỉnh răng, làm răng giả, vật tư và ghế nha khoa.
“Ông sớm muộn cũng phải làm răng giả, đến lúc đó tìm một nha sĩ trong căn cứ, chắc không khó nhỉ?”
Nhâm Tâm Nhu rời khoa răng, đi ngang quán Starbucks ở tầng một, cô thu toàn bộ cà phê trong tiệm, mấy chiếc cốc xinh xắn cũng không bỏ qua.
“Đã đến đây rồi, tiện thể lấy luôn đồ trong cửa hàng tiện lợi vậy. Lãng phí lương thực thật đáng xấu hổ.” Nhâm Tâm Nhu vừa lẩm bẩm vừa thu dọn.
Trừ nhà xác ra, cô lục tung cả bệnh viện, ngay cả chăn bông mới trong kho cũng lấy luôn.
Ba chiếc xe cứu thương đỗ ngoài phòng cấp cứu cũng bị cô thu vào không gian. Đèn và còi hụ trên nóc xe cứu thương là thứ tuyệt vời để thu hút xác sống.
Trước khi rời bệnh viện, cô lấy ra một chiếc xe tải thùng, chất đầy gạo, bột mì, rau khô, thịt xông khói, nước, giấy vệ sinh và các vật tư khác.
Sắp về đến nhà, Nhâm Tâm Nhu gọi điện cho Nhâm Nghĩa Dũng:
“Ông ơi, cháu đến đầu thôn Liễu Tam rồi. Xe tải chở vật tư có nên lái về thôn không, hay để ở chỗ khác?”
“Đừng lái về thôn, giấu xe đi. Cháu kiếm một chiếc xe nhỏ về, nhét chút đồ ăn thức uống vào để che mắt người ta. Cháu về thẳng nhà hay ghé trại gà thôn Liễu Tam trước?” Nhâm Nghĩa Dũng hỏi.
“Cháu ghé trại gà trước, bắt gà mang về trước đã. Chuyện mổ vịt để sau cũng được. Chính quyền đã cử đội cứu viện đến Nam Thị, ông biết chưa?”
“Sáng nay ông có nghe một người đồng đội cũ nhắc đến chuyện này. Nhà ông ấy ở Cảnh Lăng Thị, đội cứu viện cũng sắp đến đó cứu người. Ông ấy muốn về thôn mình ở, tìm miếng đất tự cung tự cấp, nhưng người nhà ông ấy không chịu. Thằng con trai út của ông ấy vốn tháng 12 chuyển ngành về cưới vợ, giờ phải ở lại đội đặc chiến tiếp tục công tác. Thằng con trai cả thì...”
Nhâm Nghĩa Dũng không nói tiếp: “Chờ cháu về nhà rồi ông kể tiếp. Cháu đến trại gà nhớ ghé chỗ bảo vệ cắt camera trước đã. Nghe nói xác sống trong trại gà nhiều lên rồi, cháu cẩn thận, không nhất thiết phải mấy con gà đó.”
“Vâng ạ, trước bốn giờ cháu nhất định về đến nhà.”
Nhâm Tâm Nhu lái xe tải đến dưới một ngọn đồi thấp, xung quanh không một bóng người. Cô thu xe tải vào không gian, rồi lấy ra một chiếc SUV cỡ lớn, nhét gạo, bột mì, rau khô, đồ vặt vào ghế phụ, hàng ghế sau và cốp xe, còn đặt thêm một lồng vịt sống.
Từ bộ đồ chống bạo động lấy trong phòng bảo vệ trung tâm thương mại, cô lấy sáu bộ buộc lên nóc xe. Trong bộ đồ có khiên, cây chĩa thép có thể thu duỗi, áo chống đâm, đèn pin siêu sáng và bộ đàm.
Ba con dao rựa quân dụng để dưới sàn ghế phụ.
Suy đi tính lại, cô thấy mang ít vũ khí về thì hơn. Dọc đường nhặt được hai ba con dao rựa thì không có gì lạ, chứ nhặt được mười mấy hai chục con thì quá đáng ngờ.
Trong thời mạt thế, kẻ xấu nhiều, kẻ ác nhiều, kẻ ngốc nhiều, mà kẻ ranh mãnh cũng nhiều, nên phải cẩn thận.
Trại gà nằm trên ngọn đồi thấp sau thôn Liễu Tam, dưới chân đồi có một con đường hai làn xe dẫn lên trại.
Cổng trại gà mở toang, tiếng gầm rú hỗn loạn và tiếng gà kêu vọng ra từ trong chuồng.
Nhâm Tâm Nhu đỗ xe ngoài cổng, đi bộ vào. Cô đến chòi bảo vệ trước, rút dây camera giám sát. Nhà kho đầu tiên ở sân trước là kho trứng, cô không vội thu, vì cô cần xác nhận ở đây không còn người sống.
Vào khu vực trại gà, có bốn chuồng gà, mỗi chuồng rộng cỡ hai sân bóng rổ. Bên ngoài chuồng là một bãi cỏ lớn, nơi thả gà vào ban ngày.
Toàn bộ gà đều bị nhốt trong chuồng. Hàng rào gạch của chuồng chỉ cao đến eo, phía trên thả lưới từ trần nhà xuống để ngăn gà bay ra ngoài.
Bên ngoài hàng rào đứng không ít xác sống. Cô đoán vì xác sống quanh các thôn lân cận không tìm được người để ăn nên mới lang thang tới đây.
Nhâm Tâm Nhu không giết xác sống. Cô nhảy vào chuồng, thu gà vào không gian, mỗi chuồng để lại hơn chục con, rồi mở toang cửa chuồng để xác sống vào bắt gà.
Tạo ra cảnh tượng giả như đàn gà đã chạy sạch.
Rời chuồng gà, cô đến kho trứng thu hơn trăm thùng trứng. Phía sau kho, cô phát hiện một kho lạnh lớn, bên trong là từng thùng thịt gà, lòng gà, cổ gà, khung xương gà đã đóng gói.
Giờ cô chẳng còn hứng thú gì với thịt. Hai tháng nữa điện mới cúp, những thứ này cứ để lại cho dân quanh vùng. Lúc đó không ai lấy, cô quay lại lấy cũng được.
Trứng thì cô thu hết, thời tiết này để chẳng được mấy ngày là hỏng.
“Về sau, trứng gà sẽ là thứ xa xỉ còn hiếm hơn cả rau xanh, để ông làm việc thiện và làm quà biếu người ta.”
Nhâm Tâm Nhu dạo một vòng quanh trại gà rồi rời đi.
Trước khi về thôn, cô tẩy sạch lớp phấn đen trên người, bôi chút bùn đất và vết máu lên quần áo, mặt và tóc cũng dính vết máu bẩn, trông như vừa trải qua một cuộc chạy trốn thảm khốc.
Xe chạy vào đường làng, Nhâm Tâm Nhu gọi điện cho ông: “Ông ơi, cháu vào thôn từ lối phía bắc.”
Nhâm Nghĩa Dũng vui mừng gật gù: “Được được được! Ông ra đón cháu ngay!”
Phòng tuyến ở đầu thôn là hai chiếc xe van đỗ đít vào đít, nằm chắn giữa hai căn nhà.
Dân trong thôn đều quen Nhâm Tâm Nhu. Lý Thực, dân làng đang đứng gác trên xe van, thấy cô thì vui vẻ chào: “Tiểu Nhu về rồi à! Còn không về nữa chắc ông cháu sốt ruột chết mất!”
“Bác Lý!” Nhâm Tâm Nhu gọi: “Bác dịch xe giúp cháu với, cho xe cháu vào!”
“Được luôn! Bác dời xe ngay!” Lý Thực cười chất phác nhảy xuống xe van, mặc kệ ánh mắt lo lắng của những người khác.
Trong ký ức của nguyên chủ, Lý Thực là người rất quen. Bác ấy là đảng viên trong thôn, có họ hàng với ông cô, và gọi ông là cậu.
Sau khi cha của nguyên chủ mất, bác ấy thường dẫn con trai con gái sang nhà kèm cô học bài, trò chuyện với bà nội.
Con gái bác ấy chỉ hơn cô ba tuổi, đầu năm vừa mới cưới, lấy một người bạn đại học của cô.
Sau khi xe vào làng, Nhâm Tâm Nhu xuống xe, chủ động nói với một người phụ nữ lạ mặt: “Tìm chỗ kín đáo kiểm tra trên người tôi có vết thương không nhé.”
Người phụ nữ hơi sững lại, nhìn Lý Thực. Cô ta là người ngoài thôn, không dám tùy tiện đắc tội với người trong thôn.
Lý Thực xua tay với người phụ nữ: “Không cần kiểm tra! Tôi tin nó! Nó là cháu gái ông bí thư, nếu bị cắn thì chắc chắn đã không quay về thôn!”
Đằng sau người phụ nữ có mấy người đàn ông cùng đội, là tổ trực ở cổng phía bắc. Bọn họ nhìn nhau, không ai dám lên tiếng phản đối.
Thôn Huệ có hai dòng họ đông người nhất, họ Lý và họ Nhâm.
Đa số dân họ Lý không ưa gì người họ Nhâm. Có lẽ vì họ Nhâm có quá nhiều người thành đạt, nên thường bị dân các họ khác lôi ra so sánh, trêu chọc.
Hai dòng họ cãi vã mấy chục năm, hiếm khi leo lên thành đánh nhau, nhưng ngọn lửa bất hòa vẫn chưa bao giờ nguôi.
Tuy nhiên, dù họ có nhốn nháo thế nào, không ai dám gây sự đến đầu Nhâm Nghĩa Dũng.
Nhâm Nghĩa Dũng làm lính hai mươi năm, vì bị thương nên buộc phải xuất ngũ vẻ vang. Trước khi xuất ngũ, ông đã mang quân hàm thiếu tướng. Ông không lên thành phố ngồi trong ban lãnh đạo để ăn không, mà chọn về thôn dẫn dắt dân làng làm giàu.
Hơn nữa, con trai ông lại là liệt sĩ được truy tặng huân chương Tím hạng nhất. Khắp vùng quê lân cận, thậm chí đến cả ban lãnh đạo toàn quốc cũng phải nể mặt ông. Ông chính là vị đại Phật hộ vệ thôn Huệ.
Ai ở trong thôn làm ông không vui, kẻ đó xong đời.
Sau mấy ngày tiếp xúc, người ngoài thôn đều biết uy thế của Nhâm Nghĩa Dũng ở trong thôn, không ai dám đắc tội với cháu gái cưng của ông bí thư.
