Chương 34: Về nhà (2)
Nhâm Tâm Nhu không cười, ánh mắt vẫn khá dịu dàng, nói với mấy người ngoài thôn: “Yên tâm.”
Nhâm Nghĩa Dũng chạy xe máy điện từ đằng xa tới, người chưa đến, giọng vang đã tới trước: “Nhu Nhu!”
Gương mặt quen thuộc, dáng vẻ quen thuộc, ngày càng gần, Nhâm Tâm Nhu cay mũi, nước mắt trào ra. Đã nhiều năm rồi cô chưa từng có xúc động muốn khóc lớn như vậy.
“Ông!” Cô nghẹn ngào gọi.
Nhâm Nghĩa Dũng giả vờ bình tĩnh dừng xe, ra vẻ trợn mắt nhíu mày mắng: “Hừ! Lớn thế này rồi còn khóc nhè, xấu hổ không!”
Lời nói cứng rắn, nhưng hai tay lại rất thành thật. Ông mở vòng tay, ôm cháu gái một cái thật to, an ủi: “Nín, nín, bình an trở về là tốt rồi!”
“Dạ!” Nhâm Tâm Nhu hít hít mũi, ép mình bình tĩnh lại, lau nước mắt còn đọng trên khóe mắt: “Ông, bảo người dỡ đồ trên nóc xe xuống đi, có khiên và cây chĩa.”
Nhâm Tâm Nhu mở cửa ghế phụ, lấy ra một chiếc túi du lịch đựng bộ đàm và dao rựa: “Ông, cháu nhặt được mấy con dao rựa quân dụng và mấy bộ đàm.”
Lý Thực và mấy người ngoài thôn đang canh gác lộ vẻ mừng rỡ.
Nhâm Nghĩa Dũng là người tinh đời, hiểu ngay ý cháu gái mang vũ khí về. Chỉ hai ông cháu có vũ khí sẽ dễ bị người ta ghen ghét.
Ông quay sang dặn Lý Thực: “Đồ trên nóc xe lấy xuống, cùng cái túi này đưa đến trụ sở thôn, bảo mấy người trong văn phòng trông giữ cẩn thận. Đúng bốn giờ rưỡi có cuộc họp, đến lúc đó sẽ chia!”
“Vâng, cậu! Cháu đi ngay!” Lý Thực vui vẻ chỉ huy mấy người ngoài thôn chuyển đồ. Sáu cái khiên không phải một người là bê nổi.
Một phụ nữ ngoài thôn vươn cổ muốn nhìn xem trong xe còn chở gì, Nhâm Tâm Nhu không để bụng. Đây là tâm lý bình thường.
Chính những người không tỏ ra tò mò mới là kẻ cô phải đề phòng.
Bao năm kinh nghiệm đúc kết ra một chuyện: những kẻ không tò mò người khác tìm được vật tư gì, hoặc là kẻ không còn thất tình lục dục, định quy y cửa Phật và không muốn sống nữa; hoặc là kẻ miệng nam mô bụng một bồ dao găm, sẵn sàng đâm sau lưng bất cứ lúc nào.
Còn có một loại người nữa, đó là loại như cô – người có vật tư nhiều đến cả đời ăn không hết, thực lực mạnh đến mức chẳng thèm của người khác.
Tin Nhâm Tâm Nhu trở về đã được phát lên nhóm.
Càng ngày càng nhiều dân làng chạy về phía này. Có người quan tâm, có người vẻ mặt mừng như thở phào, có người chắp tay cảm tạ trời đất, ai nấy đều vui vì cô bình an vô sự.
Trong lòng hai ông cháu rõ nhất có bao nhiêu người là thật lòng.
Mấy phụ nữ vây quanh xe cố nhìn xem trong xe có gì. Nhâm Nghĩa Dũng không ngăn cản sự tò mò của họ. Để cháu gái chở một xe vật tư về, chính là để người ta nhìn.
Một bà lão không giấu được tò mò, hỏi thẳng: “Bé Nhu, con mang gì về thế? Bà nghe trong xe có tiếng vịt kêu.”
Nhâm Tâm Nhu lục trí nhớ, theo thứ bậc, cô nên gọi bà một tiếng bà thím: “Tôi bắt được một lồng vịt.”
Bà lão lại hỏi: “Ngoài vịt ra còn gì nữa?”
Người khác vểnh tai nghe.
Nhâm Tâm Nhu đáp: “Còn có một ít rau khô.”
Bà lão hỏi: “Chỉ có rau khô? Không còn gì khác à?”
Nhâm Tâm Nhu đáp: “Còn có gạo và mì.”
“Chỉ vậy thôi?” Bà lão quay đầu nhìn vào trong xe rồi hỏi.
Nhâm Tâm Nhu: “Còn có bim bim.”
“…….”
Nhâm Tâm Nhu trả lời như nặn từng chút một, khiến dân làng sốt ruột ngứa ngáy.
Bà lão hơi không vui, lớn tiếng: “Chỉ vậy thôi? Không còn gì khác?”
Nhâm Tâm Nhu giả vờ suy nghĩ một lát rồi nói: “Tôi không nhớ ra nữa.”
Bà lão cười gượng, mỉa mai: “Còn phòng bọn ta à? Mày sợ bà cướp đồ của mày à? Bà là bà thím của mày, bà nhìn mày lớn lên đấy!”
Nhâm Nghĩa Dũng hút thuốc, lặng lẽ nhìn, lặng lẽ nghe. Ông không có ý định giúp cháu gái giải vây. Việc nhỏ thế này, nó phải tự học cách xử lý.
Nhâm Tâm Nhu không nói thêm gì. Cái loại người vô duyên, thích nhờ tuổi tác mà lên mặt này, cô ghét nhất. Chú sáu của cô là bị loại người già này hại chết, cô chẳng muốn chiều theo họ một chút nào.
Cô lạnh lùng liếc qua người phụ nữ có ánh mắt đầy khao khát kia – trông cứ như đang chờ cô “mở kho phát lương”.
Nhâm Tâm Nhu nói: “Các chú các thím nhường đường, tôi muốn về nhà.”
Cô nhìn về phía Nhâm Nghĩa Dũng: “Ông, cháu về nhà trước!”
Nhâm Nghĩa Dũng gật đầu: “Ừ, bốn giờ rưỡi đến trụ sở thôn họp.”
“Vâng.” Nhâm Tâm Nhu lên xe, nổ máy.
Những người vây quanh xe tự giác tránh đường. Hiện tại còn chưa đến đường cùng, mọi người vẫn còn lý trí.
Nhâm Nghĩa Dũng nhìn chiếc xe ngày một xa. Lần trước gặp cháu gái là nửa năm trước, con bé về nước ăn Tết.
Lần này trở về, tuy vẫn ít nói, nhưng không còn biết tôn trọng người già, yêu thương trẻ nhỏ, lễ phép như trước nữa.
“Trong bối cảnh hiện tại, vô cảm và lạnh lùng là kỹ năng cao cấp để giữ mạng đấy… đáng khen.” Nhâm Nghĩa Dũng lẩm bẩm vài câu chỉ đủ cho mình nghe.
Quá tốt bụng, quá thân thiện sẽ khiến người ta được nước lấn tới.
Chuyện phục vụ nhân dân, kính già yêu trẻ thì cứ để lão cán bộ này làm.
Nhâm Nghĩa Dũng vứt mẩu thuốc, cười ha hả hô: “Mọi người về nhà hết đi! Bảo chủ hộ và thanh niên trai tráng nhà nào đúng giờ đến phòng họp trụ sở thôn tập hợp! Nhà ông con Nhu Nhu mang về mấy cái khiên và vũ khí, chúng ta chia nhau!”
Vừa nghe có vũ khí chia, mấy người phụ nữ nhanh chóng tản đi chạy về nhà. Mấy người đàn ông có mặt, dù có phải chủ hộ hay không, cũng đều chạy đến trụ sở thôn xem náo nhiệt.
Lý Thực mặt dày chen tới sát tai Nhâm Nghĩa Dũng, nhỏ tiếng hỏi: “Cậu ơi, chia cho cháu một con dao rựa được không? Cháu dám chém xác sống đấy!”
Vợ Lý Thực mất mấy năm trước, con dâu cắn con trai cả thành xác sống, giờ trong nhà chỉ còn đứa cháu nội năm tuổi, cô con gái mới cưới chưa lâu và cậu con rể. Anh phải giành được một món vũ khí tốt mới có thể bảo vệ được họ.
“Cháu cứ yên tâm. Cậu đảm bảo dao rựa không mấy người tranh. Cậu đoán khiên và cây chĩa mới là thứ người ta giành nhau loạn lên.”
Đúng như Nhâm Nghĩa Dũng đoán.
Buổi họp chiều, khi ông hô: “Ai nhận dao rựa thì mỗi ngày phải ra ngoài thôn chém xác sống đến gần thôn!”
Những người lúc nãy còn rướn cổ đòi dao rựa đều ỉu xìu câm bặt.
Chỉ có Lý Thực, Phương Vĩnh Phát và Nhâm Hải Dương vẫn kiên trì giơ tay, tình nguyện ra ngoài thôn tuần tra xung quanh.
Nhâm Tâm Nhu cười lạnh trong lòng. Ba người không sợ chết nhất, lại trùng hợp chính là những người thường ngày đối nhân xử thế ngay thẳng nhất trong thôn.
Nhâm Hải Dương là cháu ruột của ông nội cô, năm nay bốn mươi tuổi, sau khi xuất ngũ làm ở chính quyền xã. Anh ít nói, thuộc tuýp người nói ít làm nhiều, coi ông bà như cha mẹ ruột mà hiếu thuận.
Nhâm Tâm Nhu nhìn về phía Phương Vĩnh Phát. Anh ta là con trai trưởng thôn, hai mươi bảy tuổi đã là giám đốc bộ phận của một công ty niêm yết, hay tự bỏ tiền mua hoa quả mang đến nhà ăn cho người già trong thôn.
Nguyên chủ thường tìm anh hỏi bài, hỏi gì anh cũng trả lời. Anh đẹp trai, tính cách cũng dịu dàng.
Lông mày rậm, mắt phượng, đeo kính gọng vàng, tay áo sơ mi trắng xắn đến khuỷu tay, dưới mặc quần tây đen, giày da đen, lặng lẽ đứng sau ông nội.
Nhâm Tâm Nhu thầm cảm thán: đúng là đàn ông trong mấy quyển truyện ngôn tình, nhìn đẹp thật.
Nghe ông nói, anh là hệ kim, cha mẹ đã thành xác sống, trong nhà chỉ còn vợ và đứa con trai chưa đầy hai tuổi.
Thời mạt thế mang theo đàn bà con trẻ sống rất khó, không biết tấm lòng chân thành có thể giữ được bao lâu.
Nhâm Tâm Nhu thấy kỳ lạ, vì sao mình cứ vô thức muốn nhìn anh thêm mấy lần? Trong lòng có cảm giác kỳ quái.
Nhâm Nghĩa Dũng phát dao rựa cho họ, mỗi người một bộ áo chống đâm. Con dao rựa quân dụng vốn của Nhâm Tâm Nhu đã bị một người ngoài thôn lĩnh mất.
Nhâm Tâm Nhu lặng lẽ quan sát người ngoài thôn này. Trông chưa đến ba mươi, thân hình cường tráng, có vẻ là người chịu vác được.
Nhâm Tâm Nhu liếc nhìn bàn tay cầm dao của anh ta: kẽ móng tay út có bụi bẩn màu xám, trên móng dính một chút bụi đất.
Người này là hệ thổ.
Ông nội từng nói, mấy người ngoài thôn chỉ báo với ông có một dị năng giả hệ kim.
Nhâm Tâm Nhu phát hiện người ngoài thôn này vừa nãy lén ra hiệu với mấy người ngoài thôn khác.
Thì ra, người này mới là kẻ cầm đầu của đám người ngoài thôn. Theo kinh nghiệm của cô, người này tuyệt đối không phải hạng lương thiện.
