Chương 98: Từ Biệt.
Một ý nghĩ một khi đã gieo xuống, cũng như hạt giống rơi vào lòng đất, tự nó sẽ có đường sinh sôi.
Vài ngày sau, vào một buổi chiều, nắng đẹp, sưởi ấm cả người. Liễu Nguyệt Nương vừa dỗ xong cặp long phượng thai đang quấy khóc, ngồi dưới gốc hồng trong sân, tranh thủ ánh sáng vá lại chiếc áo Thạch Sinh đã sờn vai. Anh Doanh không biết đã chạy đi đâu chơi, trong sân tĩnh lặng, chỉ có mấy con gà mái đang thong thả bới đất ở góc vườn.
Bạch Vị Hi bước đến trong sự tĩnh lặng ấy. Bước chân nàng nhẹ không tiếng động, cho đến khi cái bóng đổ xuống trên mũi kim của Nguyệt Nương, nàng mới giật mình ngẩng đầu lên.
“Vị Hi? Lại đây ngồi đi.” Nguyệt Nương cười, gạt chiếc rổ đựng đồ may vá sang bên, vỗ vỗ chiếc ghế thấp cạnh mình, “Bọn trẻ vừa ngủ, cuối cùng cũng được yên tĩnh chút rồi.”
Bạch Vị Hi nghe lời ngồi xuống, ánh mắt lướt qua vài vết chân chim rõ nét nơi khóe mắt Nguyệt Nương, rồi lại dừng trên làn da hơi thô ráp nơi đầu ngón tay vì năm tháng lam lũ. Nàng không vội mở lời, chỉ lặng lẽ ngồi bên cạnh.
Liễu Nguyệt Nương luyên thuyên kể chuyện nhà, nào là đêm qua cặp song sinh quấy đến thế nào, Anh Doanh nghịch ngợm suýt rơi xuống ao, Thạch Sinh tính sau mùa thu sẽ gia cố lại mái nhà… Nói mãi, giọng nàng cứ nhỏ dần. Nàng quá hiểu Vị Hi, hiểu từng ý nghĩa đằng sau mỗi sự im lặng của nàng ấy. Còn Vị Hi lúc này, sự yên lặng có chìu khác lạ.
Nàng đặt kim chỉ xuống, quay đầu, nhìn kỹ vào gương mặt vẫn trắng trẻo, mịn màng của Bạch Vị Hi, lòng bỗng thắt lại, giọng nói vô thức nhẹ hẳn đi: “Vị Hi… có chuyện gì sao?”
Bạch Vị Hi chầm chậm quay đầu, đôi mắt đen thẳm đối diện với ánh nhìn đầy lo lắng của Nguyệt Nương. Giọng nàng vẫn bình thản như mọi khi, không gợn sóng, nhưng lại xuyên thấu sự tĩnh mịch của buổi chiều.
“Nguyệt Nương, ta phải đi rồi.”
Mũi kim đâm vào ngón tay Nguyệt Nương, một giọt máu đỏ tươi ứa ra, nhưng nàng chẳng hề hay biết. Nàng chỉ ngây người nhìn Bạch Vị Hi, như thể không hiểu nổi câu nói ấy. Đi? Đi đâu? Tại sao?
Ngàn vạn câu hỏi nghẹn ứ nơi cổ họng — ở đây không tốt sao? Là ta đã làm gì sai? Có phải những lời đàm tiếu khiến muội khó chịu? Muội định đi đâu? — Mỗi câu hỏi đều nóng hổi, muốn bật ra.
Nhưng khi nàng nhìn vào đôi mắt của Bạch Vị Hi, trong trẻo, bình thản, lại sâu thẳm vô cùng, không có uất ức, không có oán trách, thậm chí không có cả nỗi buồn ly biệt, chỉ có một sự… an nhiên sau khi đã quyết định.
Liễu Nguyệt Nương, tất cả những lời muốn giữ nàng lại, dưới ánh nhìn ấy, không thốt nên lời. Bỗng nhiên nàng nhận ra một cách thấm thía rằng, Bạch Vị Hi chưa bao giờ thực sự thuộc về nơi này, không thuộc về bếp lửa, bờ ruộng, tã lót và chuyện vặt vãnh. Sự dừng chân của nàng ấy là ngẫu nhiên, còn ra đi, có lẽ là tất yếu.
Một nỗi chua xót và mất mát to lớn bỗng chụp lấy trái tim Liễu Nguyệt Nương, mắt nàng đỏ hoe. Môi nàng run run mấy lần, cuối cùng chỉ vội vàng cúi gằm mặt, hít một hơi thật sâu. Khi ngẩng lên, nàng cố nặn ra một nụ cười còn khó coi hơn cả khóc.
“Đi… đi cũng tốt…” Giọng nàng khản đặc, “Ra ngoài nhìn ngắm, tốt… thế gian rộng lớn mà…” Nàng nói năng lung tung, tay vô thức nắm chặt chiếc áo rách, “Chỉ là… chỉ là nhớ rằng, Thanh Khê Thôn, nhà của chúng ta, mãi mãi có một gian phòng, một bát cơm cho muội.”
Nàng nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của Bạch Vị Hi, siết chặt, như thể muốn truyền hơi ấm và nỗi nhớ nhung của mình sang nàng ấy: “Mệt mỏi, chán chường, muốn nghỉ ngơi, thì cứ về! Thường… thường về nhà thăm nhé…”
Bạch Vị Hi cúi đầu, nhìn bàn tay ấm áp, thô ráp của Nguyệt Nương đang nắm chặt lấy bàn tay lạnh lẽo, chẳng bao giờ già đi của mình, một cảm giác cực kỳ vi tế, giống như “xúc động”, lan tỏa từ đầu ngón tay. Nàng gật đầu, rất nhẹ, nhưng vô cùng trịnh trọng.
“Được.” Nàng nói, “Ta sẽ về.”
Nước mắt Nguyệt Nương cuối cùng không kìm được, từng giọt lớn lăn dài, nàng vội lấy tay áo lau, nhưng lại không nhịn được mà cười, vừa khóc vừa cười, cảm xúc phức tạp khó tả.
Chiều hôm ấy, Bạch Vị Hi cùng Nguyệt Nương đến nhà Lâm Mậu.
Ông lão trưởng làng đang dựa vào tường ngủ gật, nắng chiếu lên mái tóc bạc trắng như bạc. Nghe xong lời giải thích còn nghẹn ngào của Nguyệt Nương, ông im lặng hồi lâu, ánh mắt đặt trên người Bạch Vị Hi, phức tạp như những dây leo chằng chịt.
Có biết ơn — không có nàng, Thanh Khê Thôn có lẽ đã không còn tồn tại.
Có lưu luyến — bao năm qua, ông đã coi nàng như vị thần hộ mệnh thầm lặng không thể thiếu của ngôi làng.
Có buông bỏ — có lẽ ông đã đoán trước ngày này sớm hơn cả Nguyệt Nương.
Và có một nỗi lo âu khó nói thành lời — cho nàng, và cho ngôi làng sắp mất đi sự che chở.
Cuối cùng, ngàn vạn lời nói hóa thành một tiếng thở dài thườn thượt.
“Đi đi…” Giọng ông già nua, “Chỉ là… còn vài hôm nữa là Trung Thu rồi. Tết đoàn viên. Qua tết rồi hãy đi, có được không? Để mọi người… ăn Tết cho tử tế.”
Đôi mắt đục lờ của ông nhìn Bạch Vị Hi, mang theo một tia thỉnh cầu khó nhận ra. Ông cần thời gian, để dân làng Thanh Khê Thôn tiêu hóa tin này, và cần một cơ hội, để được từ biệt nàng một cách đàng hoàng, trịnh trọng.
Bạch Vị Hi lặng lẽ lắng nghe, rồi gật đầu: “Vâng. Qua Trung Thu rồi đi.”
Tin tức như mọc cánh, lặng lẽ bay khắp mọi nhà trong Thanh Khê Thôn. Không ồn ào, không bàn tán, chỉ có một cảm xúc nặng trĩu âm thầm chảy giữa những người dân từng vào sinh ra tử. Mỗi nhà, mỗi người, đều lặng lẽ chuẩn bị điều gì đó.
Đỗ Vân Tước trở về, đã lấy chồng nên người có phần đầy đặn hơn, gặp Bạch Vị Hi, vẫn hoạt bát như xưa, ríu rít kể chuyện.
Vợ Lộc Minh thức suốt đêm làm vội một đôi giày vải đế dày chắc chắn.
Trương Trọng Viễn gói ghém một túi nhỏ thuốc trị thương do chính tay ông điều chế, dù biết có lẽ nàng chẳng bao giờ dùng tới.
Đêm Trung Thu, Lâm Mậu lên tiếng, năm nay được mùa, phải ăn mừng thật lớn. Cả làng cùng đón Trung Thu trên sân phơi thóc!
Hôm sau.
Mặt trời còn chưa lặn hẳn, trên bãi đất trống cạnh khe suối đã nghi ngút khói bếp, tiếng người ồn ào. Con dê rừng Thạch Sinh săn được được đặt trên giá sắt lớn, nướng đến khi da vàng óng, mỡ kêu xèo xèo chảy xuống, mùi thơm quyện với khói thông, phủ trùm cả ngôi làng.
Liễu Nguyệt Nương cùng các phụ nữ mang ra những món ngon nhất của mỗi nhà, khoai mật ong Đỗ Vân Tước mang từ làng bên về trong suốt long lanh, dưa muối của bà góa Vương chua thơm phức, tiếng Lộc Minh vỗ bình rượu gạo, tất cả đều toát lên một sự thịnh soạn khác thường, gần như thành kính.
“Năm nay Lập Thu, quy mô lớn thật đấy.” Một nàng dâu mới về làng không lâu, vừa sắp bát đũa, vừa tò mò khẽ hỏi chị chồng bên cạnh, “Những năm trước… cũng náo nhiệt thế này sao?”
Chị chồng là người làng Thanh Khê lâu năm, tay thoáng khựng lại, ánh mắt vô thức hướng về bóng dáng đang lặng lẽ đứng sau lưng Nguyệt Nương, trong mắt thoáng qua một tia ai oán khó nắm bắt, rồi cười, giọng nhẹ nhàng nhưng lảng tránh: “Năm nay được mùa mà, lại có anh Thạch Sinh săn được con to thế này, chẳng lẽ không nên náo nhiệt một bữa sao!”
Nàng dâu mới gật gù như hiểu như không, chỉ cảm thấy hôm nay các bà các chị nhìn nhau có chìu ẩn ý, bên dưới bầu không khí náo nhiệt, có một dòng chảy nặng nề khó tả.
Bạch Vị Hi đứng lặng, như một bóng hình không bị thời gian bào mòn. Nàng nhìn Thạch Sinh, chàng thanh niên bộc trực năm nào, giờ đây mỗi động tác đã toát lên sự chín chắn, điềm tĩnh của một trụ cột gia đình, chỉ là thái dương đã điểm thêm sương gió. Nàng nhìn Lâm Mậu, tấm lưng ông lão trưởng làng còng thêm, ánh mắt nhìn đống lửa vừa ôn hòa vừa phức tạp. Nàng nhìn Đỗ Vân Tước và Lâm Thanh Trúc, những thiếu nữ ngày nào giờ đã làm vợ, giữa đôi mày là sự pha trộn giữa đáo để và dịu dàng, đang ôm đĩa bánh nếp cười nói ríu rít. Sức sống mãnh liệt ấy, cách biệt với sự trầm lặng vĩnh cửu của nàng bằng một khoảng lặng vô thanh.
