Chương 92: Khoanh Tay Đứng Nhìn.
Camera giám sát trên chuyến xe buýt này chỉ lưu được bảy ngày, vừa mới hết hạn.
Đề An chỉ còn cách hỏi trực tiếp tài xế xe buýt để có thêm manh mối.
Anh hỏi người tài xế: “Anh còn nhớ hôm đó là ngày nào không?”
Tài xế xe buýt lắc đầu: “Không nhớ.
Nhưng anh nói hôm đó trời mưa, tôi có hơi ấn tượng.”
Đề An hỏi cô gái đó trông thế nào.
Tài xế càng không nhớ: “Đồng chí cảnh sát, tôi lái cái xe này, một chuyến chở được hơn một trăm tám mươi người, mỗi ngày chạy sáu chuyến, vận chuyển hơn hai nghìn người mỗi ngày.
Tôi làm việc mười lăm năm rồi, gương mặt gặp qua quá nhiều, căn bản không nhớ nổi.”
Đề An đưa ảnh cho anh ta xem. Anh ta lắc đầu, nói thực sự không nhớ ra.
Đề An hỏi: “Được rồi, thế cô gái đó lên xe rồi làm gì anh có nhớ không?”
Tài xế nói: “Hình như cô ấy không mang tiền.
Lúc đó trên xe khá đông người, tôi cũng chẳng đòi.
Cô gái đó trông có vẻ không được bình thường.
Lên xe nói mấy câu kỳ quặc.
Bảo mọi người giúp cô ấy báo cảnh sát, nói là cô ấy bị bắt cóc gì đó.”
Đề An vội hỏi: “Thế có ai giúp cô ấy không?
Anh có giúp không?”
Tài xế xe buýt nói: “Không có. Hai trạm chỉ cách nhau bốn phút. Rất nhanh đã đến trạm kế tiếp.
Đến trạm kế là cô ấy xuống xe rồi.”
Đề An hỏi: “Sao lại xuống xe?”
Tài xế nói: “Người nhà của cô ấy lên xe ở trạm kế, rồi dắt cô ấy xuống xe.”
“Người nhà? Người nhà thế nào? Tại sao anh không tin lời cô ấy mà giúp báo cảnh sát, lại để người lạ mặt đưa cô ấy đi?” Đề An không kìm được chất vấn tài xế.
Nếu cô gái này là Thân Mạn, thì cô ấy đã phát tín hiệu cầu cứu rồi.
Giá như trên xe có ai đó, trong bốn phút ngắn ngủi ấy, giúp cô ấy báo cảnh sát, hoặc không để người gọi là nhà đưa cô ấy đi, thì có lẽ đã không có cảnh tượng thảm khốc sau đó: cô ấy rơi từ cầu vượt cao tám mét xuống, rồi bị xe tông qua người.
Tài xế xe buýt lúng túng nói: “Người nhà cô ấy lên xe trực tiếp dắt cô ấy đi, chúng tôi khó mà ngăn cản.
Cô gái đó mặc phong phanh, tinh thần lại không được ổn định.
Rõ ràng là trốn nhà chạy ra.
Chở một người tâm thần trên xe, lỡ cô ta phát điên lên làm bị thương hành khách, thì tôi phải chịu trách nhiệm hết.”
Đề An không kịp nổi giận trước thái độ khoanh tay đứng nhìn của tài xế, đành phải hỏi tiếp: “Người đưa cô ấy đi trông thế nào?”
Tài xế nhận ra Đề An đang cố kìm nén cơn giận dữ.
Anh ta thận trọng trả lời: “Xin lỗi, tôi không nhớ.
Nhưng... họ xuống xe rồi lên một chiếc xe khác.”
“Xe gì?”
“Trời ơi, tôi không nhớ nữa.
Tôi nhìn từ gương chiếu hậu thôi.
Là một chiếc xe hơi nhỏ, có vẻ khá sang.
Màu gì, biển số bao nhiêu tôi không để ý.”
Đề An để lại số điện thoại: “Mấy hôm nay nếu nhớ ra điều gì, thì gọi cho tôi.”
Lúc rời khỏi công ty xe buýt, Đề An nói với người phụ trách: “Mỗi năm có chín mươi nghìn phụ nữ mất tích.
Những người phụ nữ biến mất ấy lên xe buýt, thoát khỏi sự truy đuổi để cầu cứu, đó có lẽ là hy vọng cuối cùng của họ.
Công ty xe buýt các anh sau này phải tăng cường đào tạo cho tài xế về mặt này.
Khi gặp người phát tín hiệu cầu cứu, tài xế không được phép khoanh tay đứng nhìn từ xa.
Hãy dành vài phút giúp họ báo cảnh sát, chúng tôi, cảnh sát, không ngại phiền phức, không sợ là hiểu lầm.
Thà là hiểu lầm, còn hơn dập tắt hy vọng sống sót cuối cùng của họ. Hiểu chưa?”
Người phụ trách công ty xe buýt, mặt lúc trắng lúc đỏ: “Nhất định, nhất định. Đồng chí cảnh sát, sáng mai tôi sẽ tổ chức họp ngay. Sẽ truyền đạt chỉ thị của anh.
Tôi xin hứa với anh, sau này tuyệt đối sẽ không để chuyện như vậy xảy ra nữa.”
Đề An rời khỏi công ty xe buýt, trời đã tối.
Anh gọi cho Triệu Diệu: “Làm vài cốc bò không?”
Triệu Diệu nói: “Tao rửa bát xong, đang đắp mặt nạ vợ tao để lại rồi.
Làm bò gì, để hôm khác đi.
Sao thế mày, buồn à?”
Đề An nói: “Ừ, bí bách quá.”
Triệu Diệu nói: “Kể đi. Tao tư vấn cho.”
Đề An kể lại chuyện, cuối cùng nói thêm: “Mày chưa thấy cảnh cô gái đó bây giờ đâu, nằm trên giường bệnh, toàn thân cắm ống.
Phản ứng cơ bản nhất cũng không có.
Mày nói xem, nếu trên xe đó, chỉ cần có một người đứng ra.
Một người, chỉ cần một người đứng ra, giúp cô ấy một tay...”
Triệu Diệu nói: “Ừ, sự lạnh lùng của mọi người đúng là đáng buồn.
Nhưng tao cũng muốn nói thêm, cô ấy hoảng loạn cầu cứu tất cả mọi người, thực ra phản hồi nhận được sẽ rất nhỏ.
Xác suất nhận được sự giúp đỡ cũng thấp.”
Đề An hỏi: “Tại sao?”
Triệu Diệu nói: “Hiệu ứng phân tán trách nhiệm của người ngoài cuộc.
Nên phổ cập kiến thức tâm lý học này cho mọi người nhiều hơn.
Để những người cần giúp đỡ, thực sự nhận được sự giúp đỡ.
Mày từng nghe câu ‘một thầy chùa thì gánh nước, hai thầy chùa thì khiêng nước, ba thầy chùa thì chẳng có nước mà uống’ chưa?”
Đề An nói: “Nghe rồi. Chuyện về ba thầy chùa lười.”
Triệu Diệu nói: “Mày nghĩ đó là chuyện về ba thầy chùa lười à? Không phải đâu.
Nếu họ đều là người lười, thì ngay từ đầu đã chẳng có hành động gánh nước hay khiêng nước gì hết.
Câu chuyện ba thầy chùa trong tâm lý học chính là một ví dụ điển hình của hiệu ứng phân tán trách nhiệm.
Khái niệm này lần đầu được đưa ra.
Bắt nguồn từ một vụ án mạng.
Nói đơn giản, là một người phụ nữ nước ngoài bị giết trước tòa nhà, trước khi chết cô ta la hét cầu cứu.
Có ít nhất ba mươi tám người hàng xóm nghe thấy tiếng cầu cứu của cô ta, và bật đèn hoặc mở cửa sổ ra xem.
Nhưng cho đến khi cô ta ngã xuống, ba mươi tám người hàng xóm này không một ai giúp đỡ, thậm chí không một ai báo cảnh sát.
Ban đầu xã hội cho rằng sự khoanh tay đứng nhìn này là do sự lạnh lùng của xã hội tình người.
Nhưng sau khi các nhà tâm lý học xã hội nghiên cứu, họ phát hiện ra rằng, sự bi kịch xảy ra trong nhiều sự kiện xã hội, có tâm lý thờ ơ với hoàn cảnh của người khác, nhưng cũng có một hiện tượng chung, đó là hiệu ứng phân tán trách nhiệm.
Nói nôm na, người ngoài cuộc càng đông, người cần giúp đỡ lại càng nhận được ít sự giúp đỡ.
Khi trách nhiệm đổ lên một cá nhân, thì cá nhân đó gánh vác toàn bộ trách nhiệm.
Nhưng số người càng đông, trách nhiệm mà mỗi người gánh vác sẽ bị chia thành một phần rất nhỏ.
Họ sẽ nảy sinh tâm lý ‘nhất định sẽ có người cứu nó’, còn bản thân mình thì do dự có nên ra tay hay không.
Dĩ nhiên, lý thuyết này dựa trên các khảo sát xã hội thông thường, không bao gồm những người trong đám đông như mày, những người hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi hiệu ứng phân tán trách nhiệm.
Xã hội loài người có quy tắc vận hành riêng, dù một số quy tắc trông có vẻ rất tàn khốc.
Nhưng vị kỷ và loại trừ, là tâm lý tất yếu nảy sinh trong quá trình cạnh tranh khắc nghiệt với thiên nhiên, để loài người sinh sôi và tồn tại.
Vị tha là hành vi ràng buộc nảy sinh khi xã hội loài người phát triển đến một giai đoạn nhất định, khi đạo đức và pháp luật trở thành lực lượng hỗ trợ cho sự vận hành của xã hội.
Nói một cách nghiêm khắc, đó là hành vi đi ngược lại với bản năng.
Khi nhìn thấy nỗi khổ của người khác, vị kỷ hay vị tha, thực chất là quá trình đối đầu giữa bản năng động vật và bản năng xã hội trong chính con người.”
Đề An nói: “Bây giờ không phải là xã hội nguyên thủy sống chết với nhau, bây giờ là xã hội hiện đại quần tụ cùng có lợi.
Chẳng lẽ bản năng động vật của loài người không dần biến mất theo sự phát triển của xã hội sao?”
