Chương 81: Ra đi tìm cái chết
Trong đại sảnh của Hội quán Thương mại Tế Nam, mùi phấn rẻ tiền hòa lẫn với khói thuốc lá tạo nên một thứ mùi kỳ quái. Tấm thảm đỏ thẫm trải từ cửa vào tận lễ đài, hai bên là những lá cờ mặt trời mọc của Nhật phấp phới trong gió lùa.
Khi Vương Tư Niên bước vào đại sảnh theo tiếng chuông, cuộc họp đã diễn ra được gần nửa. Vẻ mặt ông thản nhiên như đang đến một buổi trà đạo với bạn già, chứ không phải là buổi lễ nhậm chức thân Nhật mà ai ai cũng khinh bỉ.
“Vương hội trưởng, mời ngài.” Một tên lính Nhật mặc quân phục màu vàng khom lưng, dẫn ông về phía ghế chính ở hàng đầu tiên.
Vương Tư Niên không thèm liếc mắt đến tên lính đó. Khi đi ngang qua hàng ghế, ông cố tình chậm lại, nghe rõ những lời xì xào phía sau: “Chẳng phải nói Vương lão bản thà chết chứ không chịu khuất phục sao? Sao lại đến?”
“Thế là hết, khí tiết của giới thương nhân Tế Nam đều bị ông ta vứt sạch rồi.”
Còn có người hạ giọng mắng “Hán gian”, từng chữ như xuyên vào tim. Ông chỉ siết chặt nắm đấm, móng tay cắm sâu vào lòng bàn tay.
Phía trên lễ đài treo tấm hoành phi “Trung Nhật thân thiện”, nét mực đậm đến chói mắt.
Sơn Bản Kiến Hùng đang đứng trước micro thao thao bất tuyệt, tên phiên dịch đứng sau máy móc lặp lại những lời quỷ quái về “Đại Đông Á cộng vinh”.
Vương Tư Niên bước đến chỗ ngồi chính, thản nhiên bắt chéo chân, khuỷu tay đặt lên thành ghế, đầu ngón tay khẽ gõ xuống mặt bàn, nhịp điệu trùng hợp với giọng điệu bài diễn văn của Sơn Bản, như thể đang đệm nhạc cho một vở hài kịch vậy.
Sơn Bản nói xong câu cuối cùng, trong đại sảnh vang lên tiếng vỗ tay lác đác, phần lớn là do lính Nhật và mấy tên Hán gian xu nịnh vỗ.
Ánh mắt hắn quét qua toàn trường, cuối cùng dừng lại trên người Vương Tư Niên đang thong thả đung đưa chân, ánh mắt thoáng hiện vẻ âm trầm, nhưng vẫn nặn ra nụ cười giả tạo: “Hôm nay, ta long trọng tuyên bố, người bạn chân thành nhất của Đế quốc Đại Nhật Bản tại Sơn Đông, tiên sinh Vương Tư Niên, sẽ đảm nhiệm chức Đại sứ thân Nhật của Sơn Đông! Mọi người hoan nghênh!”
Tiếng vỗ tay chợt ngừng hẳn, đại sảnh im lặng đến mức nghe rõ cả tiếng thở.
Mấy vị thương nhân kỳ cựu quay mặt đi chỗ khác, có người lén lấy khăn tay che mặt, những lời xì xào lúc trước giờ trở thành những lời chê bai lớn tiếng hơn.
Sắc mặt Sơn Bản trầm xuống, giơ tay ra hiệu. Lính Nhật hai bên “xoạt” một tiếng kéo khóa nòng, họng súng lạnh lẽo chĩa vào đám đông, tiếng lên đạn khô khốc khiến không khí như đông cứng lại: “Im lặng! Kẻ nào còn ồn ào, chết! Chết!”
Nhưng Vương Tư Niên vẫn ngồi vững như núi, thậm chí còn giơ tay vuốt lại cổ áo trường bào, dáng vẻ thong thả như đang thưởng thức một màn kịch của thằng hề trên sân khấu.
Sự kiên nhẫn của Sơn Bản đã cạn kiệt hoàn toàn, hắn hét vào micro ba lần liên tiếp: “Vương hội trưởng! Vương hội trưởng! Vương hội trưởng!” Mỗi tiếng lại gấp gáp hơn tiếng trước. Tên phiên dịch đứng bên cạnh, mồ hôi lạnh trên trán nhỏ xuống cả cuốn sổ tay.
Đến khi tiếng thứ ba vừa dứt, Vương Tư Niên mới chậm rãi đứng dậy.
Ông bước lên lễ đài, khi đi ngang qua chỗ Sơn Bản, cố tình huých vào vai hắn. Sơn Bản loạng choạng suýt ngã, vừa định nổi giận thì Vương Tư Niên đã cầm lấy micro, “bốp bốp” vỗ hai cái, tiếng thử âm khiến lính Nhật siết chặt súng hơn.
“Tôi tin rằng có rất nhiều người đang thắc mắc, vì sao hôm nay tôi lại đứng ở đây.”
Giọng Vương Tư Niên qua micro vang khắp đại sảnh, rõ ràng và trầm ổn: “Thú thật, tôi cũng không biết.”
Đám đông dưới sân khấu sững sờ, ngay cả Sơn Bản cũng nhíu mày.
Vương Tư Niên lại đột ngột đổi giọng, bắt đầu nói chuyện phiếm: “Nếu biết phải đứng lâu như vậy, sáng nay tôi đã uống thêm hai bát cháo, à không, là uống thêm hai cốc nước. Con người ta có thể nhịn ăn một ngày, nhưng không thể nhịn uống một ngày. Nước là nguồn sống.”
Tên phiên dịch cuống đến đổ mồ hôi, lắp bắp dịch cho Sơn Bản: “Hắn, hắn nói không biết vì sao đến, còn nói phải uống nhiều nước, nước là sinh mệnh…” Sắc mặt Sơn Bản từ lúc đầu còn mỉm cười, đến ngạc nhiên, rồi tái xanh, cuối cùng đỏ gay như gan lợn.
Hắn siết chặt nắm đấm, nghiến răng kèn kẹt, nhưng vì vỏ bọc “thân thiện” mà không thể phát tác ngay, chỉ đăm đăm nhìn Vương Tư Niên, sát khí trong mắt gần như trào ra.
Vương Tư Niên lại càng nói càng hăng, từ chuyện uống nước sang chuyện ăn cơm, từ nước suối Tế Nam đến ruộng lúa phía nam thành phố, thậm chí kể cả chuyện hồi nhỏ cùng mẹ đi gánh nước ở giếng, tuyệt nhiên không nhắc đến nửa chữ “Đại sứ thân Nhật”.
Giới thương nhân dưới sân khấu dần hiểu ra vấn đề, có người lén bụm miệng cười, bầu không khí ngột ngạt lúc trước tan biến hơn nửa. Sơn Bản cuối cùng không nhịn nổi nữa, giơ tay giật lấy micro: “Vương Tư Niên! Anh đang nói nhăng nói cuội gì thế!”
Vương Tư Niên đã có phòng bị, nghiêng người tránh, đồng thời giơ micro lên cao hơn: “Sơn Bản tiên sinh đừng vội, tôi còn chưa nói xong. Nước này phải là nước sạch, nếu bị phân chó làm ô nhiễm, uống vào sẽ chết người! Giống như có kẻ, mang vỏ người nhưng làm những việc cầm thú, sớm muộn gì cũng bị trời phạt!” Câu nói vừa nhanh vừa ác, tên phiên dịch sững sờ, quên cả dịch.
Sơn Bản tuy không hiểu hết, nhưng từ giọng điệu của Vương Tư Niên cũng cảm nhận được sự thù địch. Hắn gầm lên một tiếng “Bát ca!”, tay với lấy thanh quân đao bên hông.
Đúng lúc đó, Vương Tư Niên nhìn thấy tín hiệu từ xa, đã thành công.
Ông lại tiếp tục: “Nhưng tôi muốn hỏi mọi người ở đây, ai muốn làm nô lệ mất nước? Ai muốn nhìn vợ con mình bị ức hiếp? Ai muốn để mảnh đất ông cha để lại, cắm lên lá cờ mặt trời mọc bẩn thỉu này?”
“Bát ca! Ngươi dám vô lễ!” Sơn Bản đập bàn đứng dậy, rút quân đao ra nửa lưỡi, ánh thép lạnh lẽo chói mắt.
Lính Nhật hai bên “xoạt” một tiếng giơ súng chĩa vào lễ đài, tiếng kéo khóa nòng vang vọng khắp đại sảnh.
Vương Tư Niên không thèm để ý, bước lên một bước, dây micro bị kéo căng, giọng nói qua loa phóng thanh làm bụi trên trần nhà rơi xuống xào xạc: “Tôi, Vương Tư Niên, sống ở Tế Nam năm mươi năm, đã thấy cảnh đồng bào tay nắm tay đắp đê khi Hoàng Hà lũ lụt, đã thấy tình làng nghĩa xóm chia nhau từng cân gạo trong những năm hạn hán, nhưng chưa từng thấy lũ giặc Nhật như các ngươi, cầm dao cầm súng cướp đất của chúng ta, giết đồng bào của chúng ta, đúng là lũ sói đói!”
Ông chỉ tay ra ngoài đại sảnh, nơi xa xa vọng lại tiếng còi xe tuần tra của Nhật: “Các người nhìn những chiếc xe cắm cờ mặt trời mọc ngoài kia, chúng đang chạy trên đường của Tế Nam chúng ta; các người nhìn bọn quỷ Nhật đang vênh váo trên lễ đài này, chúng đang ăn gạo của dân chúng Sơn Đông chúng ta trồng! Chúng nói ‘Đại Đông Á cộng vinh’, nhưng cộng vinh là máu của chúng ta, vinh quang là dã tâm lang sói của chúng!”
Một thanh niên trong hàng ghế bỗng ngẩng đầu, ánh mắt long lanh.
Vương Tư Niên bắt được ánh sáng đó, giọng càng thêm hùng hồn: “Có người nói hôm nay tôi đến làm Đại sứ thân Nhật là bán nước. Nhưng tôi nói cho các người biết, kẻ bán nước thực sự là những kẻ cầm máu xương của đồng bào đi đổi lấy tiền thưởng của quỷ Nhật! Còn người Tung Của chúng ta, xương cốt từ trước đến nay đều cứng rắn!” Ông siết chặt nắm đấm: “Năm xưa Nhạc Phi chống Kim, Thích Kế Quang chống Oa, không phải bằng quỳ gối đầu hàng, mà là đứng lên phản kháng! Nay quỷ Nhật lại xâm phạm, chúng ta có lý do gì mà phải quỳ?!”
“Giết hắn! Giết hắn ngay!” Sơn Bản hoàn toàn nổi điên, vung đao chỉ vào Vương Tư Niên.
Một tên lính Nhật bóp cò, viên đạn sượt qua vai Vương Tư Niên, ghim vào tấm hoành phi phía sau, chữ “thiện” trong “Trung Nhật thân thiện” bị xuyên thủng một lỗ.
Vương Tư Niên loạng choạng, nhưng vẫn thẳng lưng, gào lên vào micro: “Đồng bào ơi! Hãy đứng lên! Chúng ta có hàng ngàn hàng vạn đồng bào, có Hoàng Hà làm hậu thuẫn, có Thái Sơn làm trụ cột! Chỉ cần chúng ta đoàn kết một lòng, thì không có quỷ Nhật nào mà không đánh đuổi được! Không có người Tung Của nào mà không đứng lên được!”
“Đứng lên! Phản kháng!” Thanh niên lúc nãy bỗng gầm lên lao về phía lính Nhật, dù bị đè xuống ngay lập tức, nhưng đã châm ngòi cho ngọn lửa giận dữ bị kìm nén bấy lâu.
Vương Tư Niên nhìn cảnh tượng hỗn loạn nhưng đầy nhiệt huyết này, khóe miệng nở một nụ cười mãn nguyện. Điều ông muốn không phải là bản thân sống, mà là để thành Tế Nam này, mảnh đất Tề Lỗ này, lại bùng lên ngọn lửa phản kháng. Vậy thì để ông làm ngọn lửa nhỏ bé đó!
Khi lưỡi đao của Sơn Bản đâm tới, Vương Tư Niên bất ngờ ném micro vào mặt hắn. Nhân lúc Sơn Bản né tránh, ông hét lớn về phía khán đài: “Hãy nhớ lấy! Người Tung Của không bao giờ khuất phục!”
Ngay sau đó, một loạt đạn dày đặc bắn vào người ông. Cú va đập khiến ông ngã sõng soài trên lễ đài. Ông như nhìn thấy nụ cười dịu dàng của người vợ quá cố, nhìn thấy con trai, và nhìn thấy hình ảnh hàng vạn đồng bào đứng lên. Máu này, chảy ra thật đáng giá.
Đúng lúc đó, bên ngoài đại sảnh có người hét toáng lên: “Không ổn rồi! Trại lao động bị cướp rồi!” Sắc mặt Sơn Bản đại biến, không kịp để ý đến Vương Tư Niên đang nằm dưới đất, hét lên với binh lính: “Nhanh! Đi tiếp viện!”
